Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, nền văn học Việt Nam chứng kiến sự cách tân mạnh mẽ chƣa từng thấy trong tƣ duy nghệ thuật của nhà văn và cấu trúc tự sự của tác phẩm. Một trong những biểu hiện thú vị nhất của công cuộc đổi mới sôi động này, không hẳn là sự sản sinh ra những chất liệu và nhân tố nghệ thuật mới, mà lại nằm ở sự thâu nhận và “tái sử dụng” tích cực những yếu tố tự sự truyền thống - đặc biệt là các yếu tố tự sự dân gian. Ở chƣơng này, chúng tôi sẽ trình bày khái quát về loại hình tự sự dân gian và đặc điểm chung của loại hình nghệ thuật này.
Trên cơ sở đó tìm hiểu sự ảnh hƣởng của văn học dân gian tới loại hình tự sự văn học viết Việt Nam từ trung đại đến hiện đại sau khi đã có những luận giải về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết. Cuối cùng là tổng quan về con ngƣời và sự nghiệp sáng của Triều Ân trong dòng chảy văn học miền núi đƣơng đại. Đây sẽ là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn giúp ngƣời viết giải quyết những vấn đề đặt ra ở chƣơng 2 và chƣơng 3 của luận văn.1 Những vấn đề lý thuyết chung về tự sự học dân gian Vấn đề phân loại văn học theo phƣơng thức phƣơng tiện thẩm mĩ ở cấp độ loại hình, thuật ngữ tự sự và trữ tình từ lâu đã đƣợc các nhà kinh điển mỹ học và lý luận văn học trên thế giới đề xuất nghiên cứu trong sự phân biệt và tƣơng quan ƣớc lệ. Tuy nhiên, theo sự tiến hoá của văn hoá, xã hội và lịch sử, những tƣ liệu bao quát chúng ngày càng phong phú, đa dạng, sự chuyển hoá thâm nhập lẫn nhau của chúng trong thực tiễn sáng tác cũng gây không ít khó khăn cho ngƣời nghiên cứu trong việc xác định thể loại.
Trong khi nêu lên những ranh giới cụ thể giữa chúng cũng nhƣ những đặc tính và những biến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 thể phong phú, lịch sử phân định tự sự và trữ tình đã có những ý kiến khác nhau. Một trong những ngƣời đầu tiên nhắc đến khái niệm tự sự trong sự phân biệt hai loại hình còn lại, phải kể đến là Arixtot. Theo ông, văn học có ba phƣơng thức mô phỏng hiện thực. Đó là kể về một sự kiện nhƣ về một cái gì tách biệt với mình, hoặc là ngƣời mô phỏng tự nói về mình không thay đổi ngôi xƣng, hoặc là trình bày tất cả những nhân vật đƣợc mô tả trong hành động.
Tên gọi của ba phƣơng thức trên lần lƣợt là tự sự, trữ tình và kịch. Nhƣ vậy, ở dạng ban đầu, tự sự chỉ đƣợc coi là một phƣơng thức mô phỏng hiện thực. Cho đến sau này, trong quá trình phân loại văn học, các nhà nghiên cứu mới dựa vào ba phƣơng thức trên mà khái quát hoá, phân loại thành ba loại hình văn học. Lúc này tự sự mới xuất hiện với tƣ cách là một loại hình.
Trong cách phân loại đó, theo Bielinxki, khái niệm tự sự đƣợc dùng để chỉ toàn bộ những tác phẩm biểu hiện đời sống thông qua miêu tả sự kiện. Đặc trƣng nổi bật nhất và cũng là quan trọng nhất của loại hình tự sự là tính khách quan. Cũng theo Bielinxki, trong mối quan hệ với những loại hình còn lại, nếu tác phẩm trữ tình ƣa nói tới cái chủ quan, tác phẩm kịch là “sự dung hợp của các yếu tố đối lập của tính khách quan tự sự và tính chủ quan trữ tình” thì đối tƣợng mà tự sự hƣớng tới là tính khách quan của thế giới. Nhƣ vậy, mỗi nhà nghiên cứu, dƣới các góc độ khác nhau sẽ có quan điểm khác nhau về tự sự.
Song dù nhấn mạnh đặc trƣng nào, tiêu chí loại hình vẫn có một cái lõi chung nhất. Về khái niệm tự sự, chúng tôi thống nhất quan điểm của các nhà biên soạn cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong cảm nhận chủ quan về nó thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó. Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 mở rộng của đời sống, trong không gian, thời gian qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con ngƣời. Trong tác phẩm tự sự, nhà văn cũng thể hiện tƣ tƣởng và tình cảm của mình.
Nhƣng ở đây tƣ tƣởng và tình cảm của nhân vật thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con ngƣời tới mức giữa chúng dƣờng nhƣ không có sự phân biệt nào cả. Nhƣ vậy ở tác phẩm tự sự, kể chuyện (hay trần thuật) là yếu tố trung tâm tổ chức ra thế giới nghệ thuật. Đồng thời với nó, cốt truyện, nhân vật là những yếu tố hạt nhân, đƣợc triển khai nhờ một hệ thống các yếu tố chi tiết, sự kiện, ngoại hình, tính cách, nhân vật, ngoại cảnh. kể cả hệ thống hƣ cấu liên tƣởng.
Từ đặc trƣng trên, có thể thấy tự sự có một khả năng bao quát rộng lớn, phản ánh hiện thực cuộc sống và ngày càng có vị trí quan trọng trong đời sống thể loại văn học. Tự sự học là một chuyên ngành còn khá mới trong khoa nghiên cứu văn học nƣớc ta. Một số vấn đề của tự sự học đã đƣợc các nhà lý luận quan tâm tìm hiểu.2001 khoa Ngữ văn - trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội đã tổ chức Hội thảo khoa học về tự sự học. Hội thảo thu hút sự chú ý của học giới, đánh dấu thành tựu lớn lao đầu tiên của chuyên ngành tự sự học trong nƣớc.
Tự sự học vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại. Hiểu theo nghĩa rộng, tự sự học nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề có liên quan. Nói cách khác là nghiên cứu nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc. Tự sự là “kể việc”, “kể chuyện” nhƣng ngày nay tự sự không đơn giản là việc kể chuyện, mà là một phƣơng pháp không thể thiếu để giải thích, lý giải quá khứ và nó có nguyên lý riêng.
Miller “Tự sự là cách để đưa các sự việc vào một trật tự, và từ trật tự ấy mà chúng có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 được ý nghĩa. Tự sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố” [60. Jonathan Culler cũng nói “Tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu biết sự vật” [60. Muốn hiểu sự vật nào thì ngƣời ta kể về sự vật đó, nhƣ vậy tự sự có nội hàm rất rộng bởi tự sự là phƣơng thức tạo nghĩa và truyền thông tin.
Trong các hình thức tự sự thì tự sự văn học khá phức tạp, vì vậy nó đã đƣợc nghiên cứu từ rất lâu và văn học trở thành đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu của tự sự học. Thuật ngữ tự sự học Narratology do nhà nghiên cứu Pháp là Tzevan Todorov đề xuất năm 1969, từ đó lý luận tự sự đã thay thế cho lý luận về tiểu thuyết. Theo tác giả Trần Đình Sử, đối tƣợng đƣợc gọi là tự sự học “bao gồm cả phần lý thuyết cấu trúc văn bản tự sự, cấu trúc sự kiện…cả phần nghiên cứu các hình thức và truyền thống tự sự, trong các nền văn học dân tộc cũng như sự so sánh chúng với nhau…nói lên được thực chất và tầm bao quát của một bộ môn nghiên cứu liên ngành” [60. Tự sự học nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan.
Vấn đề cấu trúc tự sự bắt đầu từ chủ nghĩa hình thức Nga chia ra hai lớp chất liệu và hình thức. Đến nhà lý luận G.Genette nêu thêm lớp tự sự” (kể chuyện). Theo ông, nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt cho nên vai trò của ngƣời trần thuật là quan trọng nhất. Lý thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên làm cho ngƣời trần thuật vô hình vốn ít đƣợc ngƣời ta chú ý phân tích, đƣợc hiện ra nhƣ một hệ thống biểu đạt.
Nó cho ngƣời ta thấy ngƣời trần thuật đã can dự vào tiến trình tự sự nhƣ thế nào, từ hình thức đến bình luận. Lý thuyết tự sự cho thấy rõ sự biến dạng của thời gian bằng các biện pháp rút gọn, tỉnh lƣợc, kéo dài, dừng lại, lặp lại và các hình thức đổi thay tính liên tục của sự kiện. Từ đó nó giúp quan sát cụ thể cơ chế nghệ thuật của tự sự. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 Lý thuyết tự sự hiện đại đã nêu ra vấn đề phƣơng vị hay còn gọi là góc nhìn, điểm nhìn, tiêu cự trần thuật với mô hình trần thuật.
Tự sự học hiện đại cũng nghiên cứu sâu về hành vi ngôn ngữ tự sự và các hình thức của nó, bao gồm việc phân loại các cách chuyển thuật ngôn ngữ của ngƣời khác, nhƣ trực tiếp, gián tiếp tự do, các hình thức độc thoại nội tâm, dòng ý thức. Tự sự học gắn chặt với phong cách học tiểu thuyết. Tự sự học hiện đại cũng tiếp tục nghiên cứu cấu trúc của tình tiết, đơn vị cơ bản của tự sự, các kiểu tổ hợp tình tiết, loại hình hoá cốt truyện. Tóm lại, nghiên cứu tự sự học mở ra khả năng nghiên cứu truyền thống tự sự trong mỗi nền văn học.
Chúng ta đã biết mỗi nền văn học đều có một truyền thống thể loại tự sự và các thể loại ấy tiếp nối nhau trong lịch sử. Nhƣng thực chất về sự khác biệt của các thể loại cũng nhƣ sự tiến triển của chúng diễn ra nhƣ thế nào thì trƣớc nay chỉ có thể ghi nhận một cách cảm tính. Giờ đây lý thuyết tự sự cung cấp những khái niệm về cấu trúc văn bản tự sự, cho phép ta nhận ra những đặc điểm trên một cách khoa học. Văn học dân gian là các sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng theo phƣơng thức tập thể nhiều đời chọn lọc và gọt giũa của nhân dân, là thành tố quan trọng hợp thành chỉnh thể văn hoá dân gian có tính nguyên hợp.
Hiện nay việc phân loại và đặt tên các loại hình và thể loại văn học dân gian còn có nhiều ý kiến chƣa thống nhất nhƣng có thể tạm chia làm ba loại hình: Tự sự, trữ tình và sân khấu. Loại hình tự sự bao gồm các thể loại mô tả và đúc rút kinh nghiệm toàn bộ các sự kiện diễn ra trong thế giới khách quan.