CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM TRONG CA TỪ CỦA TCS Nhận định về tính nhạc trong thơ, Mai Ngọc Chừ cho rằng: “Trong thơ có họa, có nhạc. Đó là điều đã được nói đến từ lâu. Trải qua sự thể nghiệm của thời gian, điều đó ngày nay đã được đông đảo bạn đọc (chứ không chỉ các nhà nghiên cứu) chấp nhận như một chân lý, không cần bài cãi. Quả thực không có tính họa và đặc biệt là tính nhạc thì thơ sẽ chẳng còn là thơ theo đúng nghĩa của nó.” 8 Nguyễn Thị Thanh Hà nhận định tương tự: “Những phẩm chất của âm thanh ngôn ngữ được sử dụng trong thơ ca có mang phẩm chất của âm thanh trong âm nhạc, là cơ sở để tạo nên một số hình thức diễn tả tương tự như trong âm nhạc.” 9 Đồng ý với hai tác giả trên về “tính nhạc” trong trong thơ, chúng tôi cho rằng thơ mà không có tính nhạc thì không thể ngâm thành cung bậc, như thế bản chất của thơ cũng mất.
Đối với ngôn ngữ của ca từ, “tính nhạc” đòi hỏi gắt gao hơn, vì ca từ được viết để diễn tả bằng âm nhạc. Nếu ca từ không có tính nhạc thì bản chất, đặc trưng và chức năng thẩm mỹ của nó mất tác dụng. Chính vì thế, ca từ phải là thơ hoặc có những đặc trưng về nhịp, về vần, về điệu, gần như thơ và phải có tính nhạc. Trong chương này, chúng tôi trình bày đặc điểm về ngữ âm trong ca từ TCS, cụ thể là các yếu tố tạo tính nhạc cho ca từ của TCS như: âm vực, giai điệu, nhịp, trường độ, vần, điệp âm (thanh mẫu, vận mẫu, điệp từ, điệp ngữ, và đặc biệt là vai trò diễn tả của các từ láy).
8 Mai Ngọc Chừ, Tính nhạc trong thơ ca Việt Nam (Từ góc nhìn ngữ âm tiếng Việt), Tạp chí Ngôn ngữ số 5, 2006. 9 Nguyễn Thị Thanh Hà, Giá trị nghệ thuật và các phương thức sử dụng hiện tượng láy trong thơ ca Việt Nam, Luận Án tiến Sĩ Ngữ Văn, Hà Nội, 2002. Đặc điểm về âm vực trong ca từ của TCS Trong âm nhạc, âm vực là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Sự đối lập âm vực thực chất là sự đối lập giữa nốt nhạc cao và nốt nhạc thấp.
Trong ca từ, âm vực cũng đóng vai trò quan trọng không kém, vì đó là phần lời được tô điểm và diễn tả bằng nhạc. Trong ngữ âm tiếng Việt, âm vực thực chất là sự đối lập về cao độ. Tính chất cao thấp của âm tiết tiếng Việt do thanh điệu đảm nhận. Ca khúc phải hài hòa giữa nốt nhạc và ca từ, vì thế các thanh bậc thể hiện bằng thanh điệu phù hợp với âm nhạc được chia ra ba thanh bậc: thanh bậc cao (sắc, ngã), thanh bậc cao vừa (không dấu), và các thanh bậc thấp (huyền, hỏi, nặng)10.
Lê Ta sử dụng các thanh điệu tạo đối lập âm vực cho lời trong các câu thơ như: Trời buồn làm gì trời rầu rầu Anh yêu em xong anh đi đâu ? Lắng tiếng gió suối thấy tiếng khóc… Câu thứ nhất gồm toàn thanh bậc thấp (huyền), câu thứ hai toàn thanh cao vừa (không dấu), câu thứ ba toàn thanh cao (sắc). Sự đối lập này rất điển hình, nhưng rất ít khi xuất hiện trong các ca từ, vì rất khó tạo âm sắc hay cho bài ca. Câu thơ của Xuân Diệu sau đây gồm toàn thanh cao vừa (không dấu), và một vài thanh thấp (huyền), kết hợp với các âm tiết có các phụ âm cuối là âm vang đã tạo biểu tượng lâng lâng kéo dài: Sương nương theo trăng ngừng lưng trời, Tương tư nâng lòng lên chơi vơi. 10 Theo Đoàn Thiện Thuật,: các thanh điệu tiếng Việt được phân thành hai mức đối lập: cao (không dấu, sắc, ngã) và thấp (huyền, hỏi, nặng) [14, 102].
Tuy nhiên, nhìn từ góc nhìn của âm nhạc học thì thanh không dấu không cùng âm vực với thanh sắc và thanh ngã. Nó thấp hơn một chút vì vậy nó ở mức cao vừa. 10 Trong ca từ của TCS, không xuất hiện nhiều các câu có âm vực như của Lê Ta, mà thấy các kiểu câu thơ đối lập toàn thanh cao vừa (không dấu) và các thanh thấp (huyền, hỏi, nặng) như của Xuân Diệu. Đây là một kiểu diễn đạt mà TCS sử dụng hầu hết trong các ca từ.
Có ca từ được ông sử dụng biệân pháp này hầu như trong toàn bộ các câu. Ví dụ: trong bài “Ra đồng giữa ngọ”, âm vực của ca từ toàn thanh cao vừa và thanh trầm, ca từ nhịp bốn, từng cặp hai âm tiết đối nhau, gần như dọc suốt ca từ, tạo hình ảnh tung tăng, dập dìu,: Thằng bé xinh xinh Chân chim rộn ràng Chơi diều giữa ngọ Cùng diều tung tăng Cuộn dây vửa mở Chim non cười tình Chân thoắt như chim Nhìn diều lên ngon Chim non ruộng đồng Lên ngon một mình Mùi rạ thơm thơm. Ví dụ khác như trong bài “Lại gần với nhau” có tất cả bốn phiên khúc và hai điệp khúc. Trong toàn bộ ca từ, các thanh cao (sắc) chỉ xuất hiện vài lần, còn lại là sự đối lập giữa thanh cao vừa (không dấu) và thanh thấp (huyền, hỏi, nặng).
Hơn nữa, các âm tiết đối nhau theo từng cặp, vì nhịp bốn của ca từ. Các thanh điệu được sử dụng như vậy làm cho âm vực của ca từ trầm, lời ca nghe sâu lắng hơn. 11 Lại gần, gần lại với nhau Lại gần, gần lại với nhau Ngồi gần nhau hơn Ngồi gần nhau hơn Ngồi kề bên nhau Ngồi kề bên nhau Đừng bỏ tôi đi Từng hàng thương đau Hai mươi năm rồi Trên cây u sầu Còn gì cho anh Hạt rụng cho anh Còn gì cho tôi Để lại cho em Còn gì cho em Từ ngày mang tên Không còn gì Sao còn buồn Không còn gì Sao thù hằn, Còn lại chiến tranh. Tủi hờn đất đen Hoặc trong bài “Chủ nhật buồn”, TCS sử dụng đối lập thanh thấp (thanh huyền) và thanh cao vừa (không dấu) trong cùng một câu thơ, rất đều, đẹp.
Ba thanh thấp đối lập với ba thanh cao vừa đặt trong giai điệu chậm, làm cho người nghe cảm nhận được cái buồn như : … Hồn lìa rồi nhưng em ơi, Tình còn nồng đôi con ngươi… Ví dụ trong bài “Giọt lệ thiên thu” TCS tạo hình ảnh bằng cách đối lập âm vực từng cặp giữa các cặp thanh cao và thanh cao vừa, giữa các cặp thanh cao vừa và thanh thấp như: Sống có bao năm Nắng quái yêu ma vui vui buồn buồn người lung linh thành trì người ngợm ngợm lung linh cửa nhà. Sống chết mong manh. Bước tới hư vô Gió núi bay qua khoác áo chân như lao xao bụi bờ long lanh giọt lệ lao xao bờm ngựa long lanh giọt lệ Giọt lệ thiên thu 12 TCS còn sử dụng kiểu đối lập giữa các thanh thấp và các thanh cao vừa, cách ngăn bởi một thanh cao (sắc) làm đỉnh của câu. Đây là một hình thức thường được TCS sử dụng trong hầu hết các ca từ.
Âm vực ở thanh thấp, tiến đến đỉnh âm thanh cao, rồi trở lại thanh cao vừa, và ngân thanh cao vừa ở cuối câu. Ví dụ trong bài “Buồn từng phút giây” như: Từng ngày sống, từng ngày lo, Ngồi nhìn quanh, rồi lại chờ. Một ngày mới, lòng buồn thêm, Vì người chết nhiều mãi. Từng ngày sống không vui, Từng ngày chết cho ai, Từng ngày hét la to, Từng ngày sống âm u, Một đời sống lao tù, Hoặc trong bài “Chiều một mình qua phố”: Chiều qua bao nhiêu lần môi cười Cho mình còn nhớ nhau Chiều qua bao nhiêu lần tay mời Nghe buồn ghé môi sầu.
Ngày nào mình còn có nhau xin cho dài lâu Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau. Hoặc một ví dụ khác trong bài “Đêm bây giờ đêm mai” Đêm bây giờ đêm quá hư vô Ôi con người mang trái tim khô Đêm bây giờ thắp sáng âu lo Hai mươi năm buồn vui hững hờ. Các ví dụ trên cho thấy, âm vực là sự hòa hợp các thanh cao vừa và các thanh thấp, rất hiếm khi xuất hiện thanh cao liên tục. Tuy nhiên, đôi lúc tác giả cũng sử dụng một chuỗi các thanh cao (sắc, ngã) 13 để nhấn mạnh, hay kêu gọi, cộng thêm cách diễn tả phụ họa của âm nhạc ở âm vực cao.
Ví dụ trong bài “Đời cho ta thế”: …Đời cho ta thế cứ hãy cất bước đi mọi nơi …Đời cho ta thế cứ hãy sống tới như mọi ai …Mùa xuân em hãy khoác áo mới bước đi thảnh thơi …Đời cho ta thế đứng giữa bão tố không buồn vui …Đời cho ta thế với những sớm tối không đổi thay Trong bài “Huế Sài Gòn Hà Nội”: Đã đến lúc nối tấm lòng chung… Hãy xoá hết dấu tích buồn xưa… Trong bài “Chưa mòn giấc mơ”: Dù trăm năm dài, Ngày đêm dân ta Cứ quyết chiến đấu Đánh trăm quân thù Ta bước bước đi, bước bước hoài, Trên quê hương dấu yêu này Ta nối nối tay cất tiếng cười Thách đố ai cướp đất này Ruộng hư cấy lại, Nhà tan ta xây Quyết chí sớm tối Giữ thơm con người Thống kê về dấu thanh trong toàn bộ các âm tiết của 250 ca từ dưới đây đã chứng minh nhận định đó. Đặc điểm về âm vực trong các ca từ của TCS, luôn được diễn tả ở cung bậc thấp hoặc cao vừa, và khi cần hối thúc kêu gọi thì mới sử dụng thanh bậc cao. DẤU THANH NGAN HUYỀN SẮC HỎI NGÃ NẶNG TỔNG SỐ G SỐ ÂM TIẾT 15.618/ 250 ca 5 từ 14 TỈ LỆ 41,3% 26,5% 16,5% 2,5% 4,3% 8,9% 100% 1.2 Đặc điểm về âm điệu và ngữ điệu trong ca từ TCS Trong âm nhạc, yếu tố quan trọng thứ hai là giai điệu, các nốt nhạc phải được tổ chức theo trật tự thời gian nhất định, phải có giai điệu thì mới có nhạc. Trong phạm vi một âm tiết, sự biến thiên của âm vực theo thời gian được gọi là âm điệu; còn trong một ngữ đoạn, sự biến thiên của âm vực theo thời gian được gọi là ngữ điệu.
Sự đối lập âm điệu trong âm tiết tiếng Việt chính là sự đối lập giữa các thanh bằng và thanh trắc. Sự luân phiên bằng trắc trong câu ca, cũng như câu thơ tạo ngữ điệu cho nó. Trong thơ ca truyền thống Việt Nam, lục bát, song thất lục bát là những thể thơ có sự thể hiện rất phong phú về giai điệu (âm điệu) do sự phân bố đan xen bằng trắc hài hòa, cân đối, nhịp nhàng. Trong thơ tự do hiện đại, do không cố định về số lượng âm tiết trong câu thơ, vì thế giai điệu của nó đa dạng, gần với cuộc sống muôn màu muôn vẻ.