CHƯƠNG 1 PHÊ BÌNH HẬU THUỘC ĐỊA VÀ VĂN HỌC DI DÂN VIỆT NAM DÒNG CHÍNH TẠI HOA KÌ 1.1 Phê bình hậu thuộc địa (postcolonialism) 1.1 Định nghĩa Hậu thuộc địa (hay hậu thực dân) là một khuynh hướng lý luận khai thác những hệ quả của chủ nghĩa thực dân ngay cả ở các mẫu quốc và ở cả các nước thuộc địa. Nó bao hàm nhiều vấn đề nổi bật và gây chấn động mạnh mẽ vào đối tượng độc giả như: di dân, kì thị chủng tộc, khác biệt văn hóa, mất mát, sự khôi phục của nước thuộc địa,….Trong quá trình phân tích, hai thuật ngữ này đóng một vai trò khá quan trọng trong việc thực hiện các công trình nghiên cứu nên để tránh nhầm lẫn giữa sự khác nhau giữa thực dân - thuộc địa và sự đồng nghĩa giữa phê bình hậu thuộc địa (phê bình hậu thực dân), đồng thời cần làm rõ các khái niệm trên để thuận việc nghiên cứu, chúng tôi xin được tóm tắt khái quát hai khái niệm này. Để hiểu hơn về thuật ngữ thực dân (colonial), ta cần phải hiểu rõ chủ nghĩa thực dân (colonalism) là gì. Theo Bách Khoa toàn thư Titanica (2022): ―Chủ nghĩa thực dân là một hệ thống thống trị chính trị và quân sự thông qua đó một cường quốc, được gọi là đô thị, thực hiện quyền kiểm soát chính thức và trực tiếp đối với một lãnh thổ khác.
Chủ nghĩa thực dân cũng được gọi là xu hướng thiết lập và duy trì các thuộc địa.” Thuật ngữ thực dân (colonial) chỉ các nước đế quốc, những nước đi xâm lược và đô hộ các nước khác. Chủ nghĩa thực dân là chủ nghĩa độc tài, các nhà ―chức trách‖ của các nước thực dân lúc này chỉ muốn mở rộng lãnh thổ của mình và sẵn sàng thâu tóm các nước nhỏ xung quanh để tăng lợi nhuận và thế lực bản thân. Thuộc địa (colony) là một quốc gia nằm dưới sự cai trị, xâm chiếm và lãnh đạo của một nước thực dân với những chính sách hà khắc nhằm thu lại lợi nhuận cho các nước thực dân đó. Con người thuộc địa phải trải qua những nỗi đau chiến tranh kinh hoàng cùng với sự áp bức, cai trị của các nước thực dân, bị đồng hóa để trở thành một trong những mảnh đất nhỏ thuộc quyền sở hữu của đế quốc.
Tuy nhiên, người dân ở đây lại không hề được thừa hưởng sự ưu ái nào mà còn chịu sự 13 bóc lột một cách tàn tệ. Điều đó khiến cho các cuộc khởi nghĩa liên tục bùng nổ, từ nơi này đến nơi khác chỉ để giành lấy độc lập và tự do cho dân tộc mình. Định nghĩa hậu thuộc địa (Postcolonial) trong từ điển The American Heritage: “Là một tính từ nói về khoảng thời gian sau khi một nước thuộc địa dành độc lập‖ (Of, relating to, or being the time following the establishment of independence in a colony) nghĩa là giai đoạn khi các quốc gia bị chủ nghĩa thực dân đô hộ được tự do. Chủ nghĩa thực dân thực chất là một chính sách áp đặt và bắt buộc duy trì hình thức ở nhiều mặt của người dân ở lãnh thổ này lên lãnh thổ khác.
Một số người ủng hộ chủ nghĩa thực dân cho rằng họ đang giúp đỡ những người bản xứ bằng cách khai hóa văn minh cho họ bằng nền văn minh hiện đại hơn, giúp người dân bản xứ cải thiện cuộc sống của mình. Tuy nhiên, sự thật ở đây lại được phơi bày khi thực dân đô hộ thuộc địa, đánh thuế và khai thác nguồn tài nguyên của các nước thuộc địa một cách kiệt quệ. Họ đối xử với người dân bản xứ như những nô lệ, khiến người dân phải đối mặt với những vấn đề to lớn như sự sụp đổ kinh tế, tinh thần và thậm chí là đối diện với cái chết. Theo J Daniel Elam (2019): ―Thuyết hậu thuộc địa (Postcolonial theory) là một hệ thống tư tưởng lý giải những tác động về chính trị, thẩm mỹ, kinh tế, lịch sử và xã hội của chế độ thực dân châu Âu trên khắp thế giới từ thế kỷ 18 đến 20.
Nó không phải là một thuyết khoa học dựa trên thực tế nghiên cứu mà là sự kết hợp giữa các hiện tượng, nguyên tắc trong việc giải quyết các mâu thuẫn, chống đối nhau giữa các nền văn hóa. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khuynh hướng này ra đời ít nhất là từ đầu những năm 1990 tại Việt Nam từ ảnh hưởng của Edward W.Said với cuốn Orientalism (1978, Đông phương học). Ngay việc dùng thuật ngữ nào để dịch khái niệm ra tiếng Việt cũng còn chưa hoàn toàn thống nhất. Theo Lê Thị Vân Anh thì: ―Từ colonial trong tiếng Anh có hai cách dịch là thuộc địa hoặc thực dân.
Tương tự, thuật ngữ postcolonialism có thể hiểu là chủ nghĩa hậu thuộc địa hoặc chủ nghĩa hậu thực dân‖. Tác giả đồng thời đưa ra sự giải thích của mình: 14 ―Nếu dịch là chủ nghĩa hậu thuộc địa, sẽ nhấn mạnh hơn đến những di sản còn lại, những ám ảnh thuộc địa, cái tồn tại trong bối cảnh văn hóa cựu thuộc địa. Còn dịch là chủ nghĩa hậu thực dân sẽ nhấn mạnh đến nguyên nhân, nguồn gốc, tác nhân xâm nhập tạo nên bối cảnh văn hóa đó‖ (Phạm Quang Trung, 2011, đoạn 1). Chúng tôi xin thống nhất cách dịch “chủ nghĩa hậu thuộc địa” vì đây là cách gọi phổ biến hơn.
Đồng thời, chúng tôi đồng ý với quan điểm của Lê Thị Vân Anh về việc nó nêu rõ tính chất của sự mất mát và hậu quả nhiều hơn khi nhắc đến đặc điểm lý thuyết này.2 Đặc trưng của phê bình hậu thuộc địa Theo các nhà nghiên cứu, chủ nghĩa hậu thuộc địa là thuật ngữ ám chỉ những hệ lụy mà các quốc gia độc lập phải đối mặt với các tư tưởng độc đoán, sự kiểm soát cao độ, trói buộc và xâm lăng văn hóa vẫn còn được lưu lại sau khi dành lại tự do từ các nước đế quốc. Và hiển nhiên càng về sau, ảnh hưởng này ngày càng phát triển và mở rộng theo một chiều hướng phức tạp và bao quát hơn. Chủ nghĩa hậu thuộc địa (Postcolonialism) theo Ducan Ivision (2015) đoạn 1: ―Chủ nghĩa hậu thuộc địa là giai đoạn lịch sử tố cáo hậu quả của chủ nghĩa thực dân phương Tây để lại; thuật ngữ này còn được sử dụng để miêu tả quá trình đánh giá lại lịch sử khi con người còn bị áp bức dưới nhiều hình thức khác nhau của chủ nghĩa đế quốc.‖ (Postcolonialism, the historical period or state of affairs representing the aftermath of Western colonialism; the term can also be used to describe the concurrent project to reclaim and rethink the history and agency of people subordinated under various forms of imperialism.) Nó chủ yếu nghiên cứu về ba lĩnh vực (do Douglas Robinson đưa ra): thứ nhất, nghiên cứu tình hình sau độc lập của các cựu thuộc địa châu Âu. Thứ hai, nghiên cứu tình hình cựu thuộc địa châu Âu từ thời đại thực dân đến nay.
Thứ ba, nghiên cứu quan hệ quyền lực giữa các nền văn hóa xã hội, giữa quốc gia với các dân tộc khác nhau. Cũng như hầu hết các lý thuyết đã thành trường phái khác, lý thuyết hậu thuộc địa vẫn chưa phải là hệ thống chung khi một số nhà nghiên cứu cho rằng nó nhấn mạnh thời gian của các nước thuộc địa sau khi giành độc lập, còn một số khác thì nhấn mạnh vào hệ quả của chủ nghĩa thực dân. Với một số học giả, cái gọi là văn 15 học hậu thuộc địa chỉ giới hạn trong những tác phẩm được viết ra ở các quốc gia thuộc địa và trong thời gian thuộc địa. Một số khác đông hơn, quan niệm lý thuyết hậu thuộc địa bao trùm toàn bộ mọi nền văn hóa chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa đế quốc từ thời bành trướng của thực dân cho đến hiện nay.
Vì thế trong phạm vi văn học, đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hậu thuộc địa gồm hai nhóm chính: thứ nhất là nhóm các nhà văn và nhà thơ thuộc các quốc gia thuộc địa, các quốc gia xâm chiếm thuộc địa tiếp cận với các đề tài liên quan đến thực dân và thuộc địa; thứ hai và quan trọng nhất là những cây bút sống trong các thuộc địa mà ở đó có một số thuộc địa được hình thành chủ yếu từ những người di dân đến từ mẫu quốc, còn lại các thuộc địa gồm tuyệt đại đa số là dân bản xứ, tức thuần là dân bị trị. Với nhóm trên, các nhà phê bình đã tìm ra chân tướng, cách mà các nước thực dân bóp méo sự thật từ kinh nghiệm thực tiễn khi trải qua các cuộc chiến tranh, hiện thực trong quá khứ và cách nó diễn ra quá trình chinh phục và bóc lột thông qua các tác phẩm phê bình hậu thuộc địa. Với nhóm dưới, họ tìm cách nhận diện những nỗ lực viết lại lịch sử và tái tạo bản sắc của các dân tộc thuộc địa thông qua văn học. Theo Phạm Quang Trung (2011) trong bài viết Thuyết Hậu thuộc địa ở Việt Nam, đoạn 8: ―Các lý thuyết gia tiêu biểu của thuyết hậu thuộc địa trong văn hóa, văn học chủ yếu là những người có gốc gác từ những thuộc địa cũ như E.
hoặc những nhà nghiên cứu phương Tây như F. Benjamin (Đức)… Cũng có không ít tên tuổi từ các thuộc địa định cư nghĩa là những thuộc địa được hình thành chủ yếu do những người di dân đến từ mẫu quốc như I. Xin được lưu ý tới tên tuổi của một nhà nghiên cứu gốc Việt - giáo sư Trịnh Thị Minh Hà‖. Từ đầu những năm 1980, Trịnh Thị Minh Hà đã bắt đầu suy nghĩ lại về mức độ kết nối giữa các nền văn hóa địa phương, quốc gia và khu vực ở cấp độ toàn cầu dựa trên sự giao thoa giữa quá khứ lịch sử của các nền văn hóa, chủ thể và các hình thức đại diện của tri thức và các hình thức được cho là tồn tại lâu dài trong xã hội hậu thuộc địa ngày nay.
Động lực này được xoay quanh bởi quá trình nhiều mặt: 16 khái niệm – thời gian – địa điểm, tương ứng với mối quan tâm trung tâm của thời hậu thuộc địa để trút bỏ nạn phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính giữa những người da màu. Có thể nhận thấy biểu hiện của thuyết hậu thuộc địa qua cách nhìn nhận của M. Parpat trong tuyển tập Thuyết nữ quyền, chủ nghĩa hậu hiện đại, sự phát triển (1997), Tiểu thuyết và dân tộc của J.Culler (Mỹ), Người kể chuyện của W.