I. Nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa Kiên Giang
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc, đóng vai trò kim chỉ nam cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam. Đối với Kiên Giang, việc vận dụng sáng tạo di sản này là yêu cầu tất yếu để tạo ra nền tảng tinh thần vững chắc, thúc đẩy kinh tế - xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định văn hóa không đứng ngoài mà nằm trong kinh tế và chính trị. Người định nghĩa văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và phát triển. Quan điểm này nhấn mạnh vai trò kiến tạo của văn hóa trong mọi lĩnh vực đời sống. Nổi bật nhất là luận điểm “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 40), khẳng định chức năng định hướng, dẫn dắt của văn hóa đối với sự phát triển của dân tộc. Quá trình phát triển văn hóa Kiên Giang theo tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là việc tiếp thu lý luận mà là sự thẩm thấu, chuyển hóa các giá trị cốt lõi vào thực tiễn địa phương. Kiên Giang, với những đặc thù về lịch sử, địa lý và cộng đồng dân cư, cần một lộ trình phát triển văn hóa vừa phù hợp với hệ giá trị quốc gia, vừa phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc riêng có. Các giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, như tính dân tộc, tính khoa học và tính đại chúng, trở thành những nguyên tắc nền tảng. Tính dân tộc đòi hỏi phải bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống, từ di sản văn hóa Óc Eo đến nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ. Tính khoa học yêu cầu văn hóa phải tiến bộ, chống lại mê tín dị đoan và những hủ tục lạc hậu. Tính đại chúng hướng đến việc xây dựng một nền văn hóa phục vụ nhân dân, do nhân dân sáng tạo và hưởng thụ, thể hiện qua việc nâng cao đời sống văn hóa cơ sở.
1.1. Quan điểm văn hóa soi đường cho quốc dân đi của Bác
Luận điểm “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” là tư tưởng cốt lõi, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Văn hóa được xem là ngọn đuốc soi sáng, dẫn dắt dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tiến tới độc lập, tự do và hạnh phúc. Văn hóa không chỉ là kết quả của sự phát triển mà còn là động lực nội sinh quan trọng. Theo Người, văn hóa phải tham gia tích cực vào sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Văn hóa bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực tự cường. Nó cung cấp hệ giá trị chuẩn mực để định hướng nhận thức, tình cảm và hành động của mỗi cá nhân và cả cộng đồng. Tại Kiên Giang, việc thấm nhuần quan điểm này có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Văn hóa trở thành nguồn lực tinh thần để người dân vượt qua thách thức, xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển du lịch bền vững và xây dựng hình ảnh con người Kiên Giang nghĩa tình, năng động.
1.2. Giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa được cấu thành từ ba trụ cột chính: tính dân tộc, tính khoa học và tính đại chúng. Tính dân tộc là sự khẳng định giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, là gốc rễ của một nền văn hóa. Người nhấn mạnh việc trân trọng, kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của cha ông. Tính khoa học yêu cầu văn hóa phải dựa trên cơ sở tri thức tiên tiến, hợp quy luật, chống lại những gì cũ kỹ, lạc hậu cản trở sự phát triển. Văn hóa phải góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài. Tính đại chúng thể hiện ở việc văn hóa phải thuộc về nhân dân, phục vụ đông đảo quần chúng lao động. Văn hóa phải dễ hiểu, gần gũi, phản ánh chân thực đời sống và khát vọng của nhân dân. Ba tính chất này có mối quan hệ biện chứng, thống nhất, là cơ sở để Kiên Giang xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập.
II. Thách thức trong việc xây dựng văn hóa Kiên Giang hiện nay
Quá trình phát triển văn hóa Kiên Giang theo tư tưởng Hồ Chí Minh bên cạnh những thành tựu đạt được cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vừa là cơ hội, vừa đặt ra những vấn đề phức tạp. Luận án của tác giả Nguyễn Đặng Thùy Diễm chỉ ra rằng quá trình này “đem lại không ít những khó khăn và thách thức”, trong đó nổi bật là “tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ... đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc”. Thách thức lớn nhất là nguy cơ phai nhạt bản sắc văn hóa dân tộc trước sự xâm nhập ồ ạt của các sản phẩm văn hóa ngoại lai. Giới trẻ, đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất, có xu hướng tiếp thu thiếu chọn lọc, dẫn đến sự xa rời các giá trị truyền thống. Thêm vào đó, sự chênh lệch về mức hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, đặc biệt giữa thành thị và nông thôn, vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo vẫn còn tồn tại. Việc đầu tư cho các thiết chế văn hóa cơ sở chưa tương xứng với nhu cầu, ảnh hưởng đến việc nâng cao đ đời sống văn hóa cơ sở. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và người dân cũng là một rào cản lớn. Các hiện tượng tiêu cực như tham nhũng, lãng phí, bệnh thành tích làm xói mòn niềm tin xã hội và các giá trị văn hóa tốt đẹp. Việc quản lý các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa trên không gian mạng còn nhiều bất cập, tạo kẽ hở cho các thông tin xấu độc, phản văn hóa lan truyền, tác động tiêu cực đến nhận thức và hành vi của công chúng.
2.1. Tác động của toàn cầu hóa đến bản sắc văn hóa dân tộc
Toàn cầu hóa mở ra cơ hội giao lưu, tiếp biến văn hóa nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ đồng hóa, làm lu mờ bản sắc văn hóa dân tộc. Các sản phẩm văn hóa ngoại lai, đặc biệt là từ phương Tây, thông qua internet và các phương tiện truyền thông hiện đại, đã tác động mạnh mẽ đến lối sống, thị hiếu thẩm mỹ của người dân Kiên Giang, nhất là thế hệ trẻ. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng “sức đề kháng” văn hóa cho mỗi cá nhân và cộng đồng. Cần tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống và lòng tự hào dân tộc, giúp người dân, đặc biệt là thanh thiếu niên, có đủ bản lĩnh để “hòa nhập chứ không hòa tan”, biết chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho văn hóa dân tộc, đồng thời kiên quyết bài trừ những yếu tố ngoại lai không phù hợp.
2.2. Sự suy thoái về đạo đức và lối sống trong bối cảnh mới
Mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập đã làm nảy sinh các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Lối sống thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ có xu hướng lan rộng, làm phai nhạt các giá trị truyền thống tốt đẹp như tình làng nghĩa xóm, lòng nhân ái, sự sẻ chia. Tình trạng này được Đảng ta nhận định là “nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998, tr. 56). Để khắc phục, cần đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đây là giải pháp căn cơ để xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Đồng thời, phải tăng cường vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, hình thành một hệ giá trị quốc gia chuẩn mực, phù hợp với thời đại mới, góp phần tạo dựng nên hình ảnh con người Kiên Giang nghĩa tình, năng động.
III. Phương pháp xây dựng con người Kiên Giang nghĩa tình năng động
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, con người là chủ thể sáng tạo, đồng thời là mục tiêu cao nhất của văn hóa. Do đó, nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển văn hóa Kiên Giang là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa với những phẩm chất đặc trưng của địa phương. Con người Kiên Giang cần được phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất và thẩm mỹ, mang trong mình những đặc tính cốt lõi: “nghĩa tình, năng động”. “Nghĩa tình” thể hiện sự kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc như lòng yêu nước, nhân ái, thủy chung, đoàn kết. “Năng động” phản ánh yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập, đòi hỏi sự sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có khả năng thích ứng cao. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần tập trung vào các giải pháp đồng bộ. Trước hết, hệ thống giáo dục và đào tạo phải được đổi mới căn bản, toàn diện, chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống và khơi dậy khát vọng cống hiến. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao phải được tổ chức sâu rộng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, bồi đắp tâm hồn và rèn luyện thể chất cho người dân. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cần được triển khai thực chất hơn, gắn liền với xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Việc xây dựng và nhân rộng các tấm gương người tốt, việc tốt có vai trò quan trọng trong việc định hướng giá trị và lan tỏa những điều tích cực trong xã hội. Cuối cùng, phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để mọi người dân được học tập, lao động, cống hiến và phát triển tài năng.
3.1. Giáo dục đạo đức lối sống theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh
Việc giáo dục đạo đức, lối sống là giải pháp nền tảng để xây dựng con người phát triển toàn diện. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời để mọi người học tập và noi theo. Cần đưa nội dung học tập và làm theo Bác trở thành công việc thường xuyên, tự giác của mỗi tổ chức và cá nhân. Nội dung giáo dục cần tập trung vào các phẩm chất cốt lõi như cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tinh thần yêu nước, yêu đồng bào; ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Các hình thức giáo dục phải đa dạng, sinh động, từ trong nhà trường đến ngoài xã hội, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa “xây” và “chống”. Việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường, cơ quan, đơn vị là điều kiện tiên quyết để giáo dục đạo đức, lối sống đạt hiệu quả cao, góp phần ngăn chặn sự suy thoái.
3.2. Phát huy vai trò chủ thể của nhân dân trong đời sống văn hóa
Quan điểm của Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh văn hóa là sự nghiệp của quần chúng. Do đó, để phát triển văn hóa bền vững, phải khơi dậy và phát huy vai trò chủ thể sáng tạo của nhân dân. Người dân không chỉ là đối tượng hưởng thụ mà còn là người trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo và bảo tồn các giá trị văn hóa. Cần tạo cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng, các câu lạc bộ, đội, nhóm sở thích tại cộng đồng. Việc nâng cao chất lượng đời sống văn hóa cơ sở phải gắn với việc phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Khi người dân thực sự làm chủ đời sống văn hóa, họ sẽ có ý thức trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và xây dựng môi trường sống văn minh, tiến bộ.
IV. Bí quyết bảo tồn di sản và phát triển công nghiệp văn hóa
Kiên Giang sở hữu một kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú, là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển. Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa đòi hỏi một cách tiếp cận khoa học, kết hợp hài hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại. Tư tưởng của Người chỉ rõ cần trân trọng quá khứ nhưng không cổ hủ, phải biết gạn đục khơi trong, tiếp thu cái mới để làm giàu thêm di sản của dân tộc. Do đó, công tác bảo tồn không chỉ là giữ gìn nguyên trạng mà phải làm cho di sản “sống” trong đời sống đương đại. Các di sản tiêu biểu như di sản văn hóa Óc Eo tại khu vực Óc Eo - Ba Thê, các di tích lịch sử gắn với anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ hay văn hóa biển đảo Kiên Giang đặc sắc cần được đầu tư nghiên cứu, trùng tu, tôn tạo và quảng bá một cách bài bản. Song song với bảo tồn, việc phát triển các ngành công nghiệp văn hóa là hướng đi chiến lược để biến di sản thành tài sản. Cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực văn hóa, sáng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế cao dựa trên nền tảng văn hóa bản địa. Việc kết nối chặt chẽ giữa văn hóa và du lịch là chìa khóa thành công. Xây dựng các tour du lịch di sản, du lịch trải nghiệm văn hóa sẽ không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần quảng bá hình ảnh, nâng cao lòng tự hào về quê hương Kiên Giang.
4.1. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Óc Eo lễ hội Nguyễn Trung Trực
Việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Óc Eo và lễ hội Nguyễn Trung Trực là nhiệm vụ trọng tâm. Đối với di sản Óc Eo, cần đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu, khai quật, xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thế giới. Điều này sẽ nâng tầm giá trị di sản và thu hút nguồn lực đầu tư cho bảo tồn và phát triển du lịch. Đối với Lễ hội anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, cần tiếp tục duy trì, tổ chức với quy mô trang trọng, giữ gìn các nghi thức truyền thống nhưng đồng thời đổi mới phần hội để hấp dẫn hơn, qua đó giáo dục tinh thần yêu nước, bất khuất cho các thế hệ. Việc xã hội hóa công tác bảo tồn, huy động sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp là giải pháp cần thiết để đảm bảo tính bền vững.
4.2. Hướng đi chiến lược cho các ngành công nghiệp văn hóa
Phát triển công nghiệp văn hóa là một hướng đi tất yếu trong bối cảnh hiện nay. Kiên Giang có tiềm năng lớn trong các lĩnh vực như du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, ẩm thực. Cần xây dựng một chiến lược tổng thể, xác định các ngành công nghiệp văn hóa mũi nhọn để tập trung đầu tư. Tỉnh cần có cơ chế, chính sách ưu đãi về vốn, thuế, đất đai để thu hút doanh nghiệp; hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các sản phẩm sáng tạo. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, ứng dụng công nghệ để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới và quảng bá văn hóa Kiên Giang ra thế giới, gắn kết chặt chẽ với mục tiêu phát triển du lịch bền vững.
V. Vận dụng tư tưởng Bác vào thực tiễn phát triển văn hóa Kiên Giang
Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa vào thực tiễn Kiên Giang đã được cụ thể hóa thông qua các chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyền tỉnh. Chương trình hành động của Tỉnh ủy Kiên Giang về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước đã đề ra những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, toàn diện. Kết quả thực tiễn cho thấy sự chuyển biến tích cực trên nhiều phương diện. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ với chương trình xây dựng nông thôn mới. Tỷ lệ gia đình văn hóa, ấp, khu phố văn hóa không ngừng tăng lên, góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ cơ sở. Hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở được quan tâm đầu tư, nâng cấp. Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao diễn ra sôi nổi, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ của nhân dân. Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đạt được nhiều kết quả quan trọng. Các di tích được xếp hạng được bảo vệ, tu bổ; các loại hình di sản văn hóa phi vật thể như đờn ca tài tử Nam Bộ, các lễ hội truyền thống được duy trì và phát huy. Nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vai trò của văn hóa được nâng lên rõ rệt. Văn hóa đã dần trở thành nguồn lực nội sinh, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển du lịch bền vững.
5.1. Cụ thể hóa qua chương trình hành động của Tỉnh ủy Kiên Giang
Chương trình hành động của Tỉnh ủy Kiên Giang là minh chứng rõ nét cho việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh. Chương trình đã xác định các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể cho từng giai đoạn, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm như: xây dựng con người Kiên Giang phát triển toàn diện; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa; nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa. Việc triển khai quyết liệt, đồng bộ chương trình hành động này đã tạo ra sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp phát triển văn hóa Kiên Giang.
5.2. Kết quả nâng cao đời sống văn hóa cơ sở và xây dựng nông thôn mới
Một trong những thành tựu nổi bật là việc nâng cao đời sống văn hóa cơ sở. Hệ thống trung tâm văn hóa - thể thao xã, nhà văn hóa - khu thể thao ấp được đầu tư xây dựng, trở thành nơi sinh hoạt cộng đồng, tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao bổ ích. Phong trào xây dựng nông thôn mới đã làm thay đổi diện mạo nông thôn Kiên Giang không chỉ về hạ tầng kinh tế mà cả về văn hóa - xã hội. Tiêu chí về văn hóa trong xây dựng nông thôn mới đã thúc đẩy các địa phương quan tâm hơn đến việc xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, bảo vệ môi trường, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của địa phương.