MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay vấn đề “Rèn luyện và phát triển năng lực tƣ duy sáng tạo” đang là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ và mang tính thực tiễn cao. Nó nhằm tìm ra các phƣơng án, biện pháp thích hợp để kích hoạt khả năng sáng tạo và để rèn luyện, tăng cƣờng khả năng tƣ duy của một cá nhân hay một tập thể cộng đồng làm việc chung về một vấn đề hay lĩnh vực. Do đó, một yêu cầu cấp thiết đƣợc đặt ra trong hoạt động giáo dục phổ thông là phải đổi mới phƣơng pháp dạy học, trong đó đổi mới phƣơng pháp dạy học Toán là một trong những vấn đề đƣợc quan tâm nhiều.
Sƣ phạm học hiện đại đề cao nguyên lý học là công việc của từng cá thể, thực chất quá trình tiếp nhận tri thức phải là quá trình tƣ duy bên trong của bản thân chủ thể. Vì thế nhiệm vụ của ngƣời giáo viên là mở rộng trí tuệ, hình thành năng lực, kỹ năng cho học sinh chứ không phải làm đầy trí tuệ của các em bằng cách truyền thụ các tri thức đã có. Việc mở rộng trí tuệ đòi hỏi giáo viên phải biết cách dạy cho học sinh tự suy nghĩ, phát huy hết khả năng, năng lực của bản thân mình để giải quyết vấn đề mà học sinh gặp phải trong quá trình học tập và trong cuộc sống. Hơn thế nữa trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin theo hƣớng ngày càng hiện đại hóa, con ngƣời ngày càng sử dụng nhiều phƣơng tiện khoa học kĩ thuật hiện đại thì năng lực suy luận, tƣ duy và sáng tạo giải quyết vấn đề càng trở nên khẩn thiết hơn trƣớc đây.
Không có một nhà giáo dục nào lại từ chối việc dạy cho học sinh chúng ta tƣ duy. Nhƣng làm thế nào để đạt đƣợc điều đó? Do vậy, rèn luyện và phát triển năng lực tƣ duy sáng tạo cho học sinh là một mục tiêu mà các nhà giáo dục phải lƣu tâm và hƣớng đến. Bên cạnh đó, thực tiễn còn cho thấy trong quá trình học Toán, rất nhiều học sinh còn bộc lộ những yếu kém, hạn chế về năng lực tƣ duy sáng tạo: Nhìn các đối tƣợng toán học một cách rời rạc, chƣa thấy đƣợc mối liên hệ giữa các yếu tố toán học, không linh hoạt trong điều chỉnh hƣớng suy nghĩ khi gặp trở ngại, 1 z quen với kiểu suy nghĩ rập khuôn, áp dụng một cách máy móc những kinh nghiệm đã có vào hoàn cảnh mới, điều kiện mới đã chứa đựng những yếu tố thay đổi, học sinh chƣa có tính độc đáo khi tìm lời giải bài toán. Từ đó dẫn đến một hệ quả là nhiều học sinh gặp khó khăn khi giải toán, đặc biệt là các bài toán đòi hỏi phải có sáng tạo trong lời giải nhƣ các bài tập hình học không gian.
Do vậy, việc rèn luyện và phát triển năng lực tƣ duy cho học sinh nói chung và năng lực tƣ duy sáng tạo cho học sinh phổ thông qua dạy học toán nói riêng là một yêu cầu cấp bách. Từ trƣớcđến nay đã có nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc quan tâm đến vấnđề bồi dƣỡng tƣ duy sáng tạo cho học sinh. Nhà toán học nổi tiếng Polya đãđi sâu nghiên cứu bản chất của quá trình giải toán , quá trình sáng tạo toán học và cho ra mắt tác phẩm Sáng tạo toán học. Ở nƣớc ta, các giáo sƣ Hoàng Chúng, Nguyễn Cảnh Toàn … cũng đã nghiên cứu về lí luận và thực tiễn việc phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh.
Có thể thấy rằng vấnđề bồi dƣỡng và phát triển tƣ duy sáng tạo trong giảng dạy bộ môn Toánđã thu hútđƣợc sự quan tâm chúý của nhiều nhà nghiên cứu. Song các nghiên cứu chƣa áp dụng vào từng nội dung toán học cụ thể ở chƣơng trình phổ thông. Trong khi đó, hình học không gian vốn là một môn học hay, có khả năng rèn luyện trí tƣởng tƣợng, rèn khả năng tƣ duy sáng tạo cho học sinh.Vì vậy, tôi chọnđề tài nghiên cứu của luận văn này là : “Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong dạy học chư ng h i di n v thể t ch c ch ng lớp 12 trung học phổ thông”. Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh khi học chƣơng “Khối đa diện và thể tích của chúng” lớp 12 nâng cao trung học phổ thông.
Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu các bài tập hình học không gian trong sách giáo khoa, sách bài tập Hình học lớp 12 nâng cao (NXB Giáo dục – năm 2008), các bài toán về thể tích và khoảng cách trong các kì thi. Mẫu khảo sát Học sinh các lớp 12 A1 trƣờng trung học phổ thông Quế Võ số 1và lớp 12 A1 trƣờng trung học phổ thông Quế Võ số 3, Bắc Ninh. Vấn đề nghiên cứu Dạy bài tập hình học không gian lớp 12 trung học phổ thông theo hƣớng nào thì phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh? 6. Giả thuyết nghiên cứu Nếu dạy bài tập hình học không gian lớp 12 trung học phổ thông theo các biện phápđề xuất trong luận văn này thì sẽ phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm sáng tỏ khái niệm tƣ duy, tƣ duy sáng tạo, các yếu tốđặc trƣng của tƣ duy sáng tạo. - Đề xuất các biện pháp dạy học bài tập hình học không gian nhằm rèn luyện năng lực tƣ duy sáng tạo cho học sinh. - Xây dựng và khai thác hệ thống bài tập hình học không gian lớp 12 phù hợp với sự phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh. - Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm nhằmđánh giá tính khả thi, tính hiện thực, tính hiệu quả củađề tài.
Phƣơng pháp nghiên cứu 8. Nghiên cứu lý luận - Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học, tâm lí học, lí luận dạy học môn Toán. - Các tài liệu sách báo, bài viết phục vụ cho đề tài. Điều tra, quan sát Dự giờ, quan sát việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh trong quá trình khai thác các bài tập sách giáo khoa, các bài tập chuyên đề, bài tập trong các đề thi quốc gia.
Thực nghiệm sư phạm Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm với các lớp học thực nghiệm và lớp học đối chứng trên cùng một đối tƣợng. Đóng góp luận văn - Trình bày cơ sở lí luận về tƣ duy sáng tạo. - Đề xuấtđƣợc bốn biện pháp dạy học hình học không gian theo hƣớng phát huy tƣ duy sáng tạo cho học sinh. - Kết quả thực nghiệm sƣ phạm cho thấyđề tài có tính khả thi và hiệu quả.
- Kết quả củađề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữuích cho đồng nghiệp và sinh viên khoa Toán trƣờngĐại học Sƣ phạm và cho những ai quan tâm đến dạy học bồi dƣỡng tƣ duy sáng tạo cho học sinh 10. Cấu trúc luận văn CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tƣ duy sáng tạo 1. Một số yếu tố đặc trƣng của tƣ duy sáng tạo 4 z 1.
Tính mềm dẻo 1. Tính nhuần nhuyễn 1. Tính hoàn thiện 1. Tính nhạy cảm vấn đề 1.
Vận dụng tƣ duy biện chứng để phát triển tƣ duy cho học sinh 1. Tiềm năng của chủ đề khối đa diện và thể tích khối đa diện trong việc phát triển tƣ duy sáng tạo cho học sinh 1. Kết luận chƣơng I CHƢƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC PHẦN ĐA DIỆN VÀ THỂ TÍCH CỦA KHỐI ĐA DIỆN THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN TU DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH 2. Xây dựng hệ thống bài toán gốc giúp học sinh quy bài toán “lạ” về “quen” 2.
Hệ thống các bài toán gốc tính thể tích khối chóp 2. Hệ thống các bài toán gốc tính thể tích khối lăng trụ 2. Rèn luyện tƣ duy sáng tạo của học sinh qua việc khuyến khích học sinh tìm ra nhiều cách giải trong một bài toán 2. Sử dụng phƣơng pháp véc tơ và tọa độ để giải quyết bài toán hình học không gian CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 3.
Mục đích thực nghiệm 3. Nội dung thực nghiệm 3. Phƣơng thức thực nghiệm sƣ phạm 3. Chọn trƣờng, lớp và giáo viên tiến hành thực nghiệm 5 z 3.
Bố trí thực nghiệm 3. Kiểm tra, đánh giá 3. Kết quả thực nghiệm 3.Phân tích định tích các bài kiểm tra 3. Phân tích định lƣợng 3.
Kết quả chƣơng 3 KẾT LUẬN VÀ KHIẾU NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tƣ duy Khi bạn làm một bài toán bạn cần phải đọc và phân tích đề thật kỹ sau đó suy nghĩ xem nó thuộc dạng nào, đề bài cho gì và yêu cầu gì, phƣơng pháp giải là gì, các công thức định lý nào cần áp dụng… Điều này có nghĩa là bạn đã phải tƣ duy trƣớc khi làm bài. Hay một ví dụ khác là cảm xúc trào dâng khiến bạn nảy ra một ý thơ nào đó và bạn muốn làm một bài thơ. Để có thể làm đƣợc bài thơ diễn tả ý thơ đó, bạn phải lựa chọn thể loại, chọn lựa cấu trúc, chọn cách gieo vần.
Nói tóm lại là bạn phải tiêu tốn thời gian để suy nghĩ, tìm tòi. Có nghĩa là bạn tƣ duy. Những quá trình tƣ duy trên đây, dù nhanh hay chậm, dù nhiều hay ít, dù nông cạn hay sâu sắc đều diễn ra trong bộ não hay thần kinh trung ƣơng. Chúng không diễn ra trong mắt hay trong tim.
Chúng là một hoạt động của hệ thần kinh. Hay tƣ duy là một hoạt động của hệ thần kinh. Trong cuốn “Rèn luyện tƣ duy trong dạy học toán”, PGS.TS Trần Thúc Trình có định nghĩa: “Tƣ duy là một quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tƣợng và trƣớc đó chủ thể chƣa biết”. Theo Pap-lôp: “Tƣ duy là sản vật cao cấp của một vật chất hữu cơ đặc biệt, tức là bộ óc, qua quá trình hoạt động của sự phản ánh hiện thực khách quan bằng biểu tƣợng, khái niệm, phán đoán… Tƣ duy bao giờ cũng liên hệ với một hình thức nhất định của sự vận động của vật chất với sự hoạt động của bộ óc… Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng tƣ duy là đặc tính của vật chất’.
7 z Tƣ duy không phải là sự ghi nhớ mặc dù nó có thể giúp cho sự hoàn thiện ghi nhớ. Tƣ duy không phải là hoạt động điều khiển cơ thể mà chỉ giúp cho sự định hƣớng điều khiển hay định hƣớng hành vi. Tƣ duy cũng không phải là giấc mơ mặc dù nó có thể xuất hiện trong một số giấc mơ và có những điểm giống với giấc mơ.