Chương 1: Tổng quan về cấp tín dụng cho DNNVV Chương 2: Thực trạng cấp tín dụng cho DNNVV tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Kinh Bắc. Chương 3: Giải pháp phát triển tín dụng DNNVV tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Kinh Bắc. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Lý luận về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng khái niệm DNNVV và sau đó khái niệm doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam. Vấn đề tiêu chí doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này trong nhiều năm qua. Định nghĩa về DNNVV, doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ rõ ràng phải dựa trước tiên vào quy mô doanh nghiệp. Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu., các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát triển khác nhau.
Ở Việt Nam để giải quyết vấn đề định nghĩa này, công văn số 681/CP- KTN ban hành ngày 20/06/1998 về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chính phủ chỉ ra rằng DNNVV là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn). Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các DNNVV ở Việt Nam, phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Trên thực tế, tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ và cực nhỏ. Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ về việc trợ giúp phát triển DNNVV ViệtNam, DNNVV lại được định nghĩa: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm 8 (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).
Tiêu chí phân loại doanh nghiệp Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Số lao động Tổng nguồn Số lao Tổng nguồn Số lao động vốn động vốn 1. Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 nghiệp và thuỷ xuống trở xuống người đến đồng đến 100 người đến sản 200 người tỷ đồng 300 người 2. Công 10 người trở 20 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 nghiệp và xây xuống trở xuống người đến đồng đến 100 người đến dựng 200 người tỷ đồng 300 người 3. Thƣơng mại 10 người trở 10 tỷ đồng Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 và dịch vụ xuống trở xuống người đến đồng đến 50 tỷ người đến 50 người đồng 100 người (Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 56/2009/NĐ-CP) Theo Nghị định trên, DNNVV phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Về mặt pháp lý: phải là cơ sở kinh doanh đã kinh doanh theo quy định của pháp luật.
- Về quy mô: được phân thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn. - Về vốn đăng ký: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp. - Về số lượng lao động trung bình hàng năm: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp. Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa trước tiên nhỏ về nguồn lực quan trọng nhất là vốn và con người.
Chính vì thiếu vốn và con người dẫn đến thiếu rất nhiều nguồn lực để có thể nâng cao khả năng cạnh trạnh của DNNVV trên thị trường. Tuy vậy, DNNVV vẫn có những ưu thế mà các doanh nghiệp 9 lớn không có được. Sau đây là những bất lợi và lợi thế của DNNVV tại Việt Nam đã được nghiên cứu và tổng kết qua thời gian. - Những bất lợi đối với hoạt động của DNNVV Điều hành theo phong cách gia đình và hay xung đột về vấn đề sở hữu.
Đa số các DNNVV là doanh nghiệp cá nhân hay gia đình, nên việc điều hành chủ yếu từ các thành viên gia đình nên sẽ không có khả năng thu hút những nhà quản lý giỏi nếu không thể thoát ra khỏi kiểu điều hành gia đình. Đa số các nhà điều hành DNNVV đều thiếu kiến thức quản lý và những kỹ năng cần thiết để quản lý doanh nghiệp có qui mô. Nên những DNNVV khi phát triển lớn hơn thì việc chuyển sang công ty cổ phần đại chúng và cần có chính sách thu hút các nhà quản lý chuyên nghiệp là cần thiết. Thiếu vốn và khó tiếp cận các nguồn vốn chính thức.
Xuất phát điểm của các DNNVV là vốn ít. Tại Việt Nam, để đầu tư mở rộng sản xuất cần vay vốn phải có tài sản thế chấp. Cơ chế tiếp cận vốn theo kiểu trên đã là rào cản để các DNNVV có nguồn lực tài chính để phát triển. Dễ khởi nghiệp nhưng chịu rất nhiều rủi ro trong kinh doanh.
Các nghiên cứu tại Singapore chỉ ra rằng, có 83% DNNVV sau 5 năm phải giải thể nếu không có sự trợ giúp từ chính phủ (Elango Rengasamy, tham luận tại hội thảo SMEs Việt Nam tại Đà Nẵng ngày 2-4/8/2016). Những rủi ro của DNNVV tập trung chủ yếu là thiếu nhân viên có kỹ năng (64%), chịu lãi suất và tiền thuê đất cao (9%), cạnh tranh cao và chi phí hoạt động tăng. Không có lợi thế kinh tế theo quy mô Hiệu quả kinh tế theo qui mô làm cho doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất và kinh doanh dễ dàng hơn so với các đối thủ, nhờ đó khả năng cạnh tranh trên thương trường thông qua chính sách giá là một ưu thế. Các DNNVV không thể cạnh tranh dựa trên chi phí, mà cần tập trung vào chiến 10 lược khác biệt và khai thác chênh lệch giá thông qua giảm chi phí vận chuyển và tạo sự thuận lợi trong bán hàng hơn là cạnh tranh trực diện với các doanh nghiệp lớn.
Công nghệ lạc hậu, khó tiếp cận và đổi mới công nghệ sản xuất tiên tiến, nhất là công nghệ sản xuất xanh. Các DNNVV thường gắn với công nghệ lạc hậu và thủ công. Do đa số các DNNVV là doanh nghiệp gia đình nên địa điểm sản xuất và kinh doanh nằm trong khu vực dân cư. Việc gây ra ô nhiểm về khói bụi, nước thải, tiếng ồn là điều không tránh khỏi.
Hâu như rất ít DNNVV áp dụng công nghệ xanh trong sản xuất và kinh doanh. Nếu có thể tiếp cận vốn, đất đai cho sản xuất và sự hỗ trợ về tiếp cận công nghệ của chính phủ, thì các DNNVV mới có cơ hội phát triển để hội nhập và áp dụng công nghệ tiên tiến và xanh trong sản xuất và kinh doanh. Thiếu thông tin thị trường, yếu trong hội nhập và khó tham gia chuỗi thị trường của các ngành hàng Các DNNVV không đủ nguồn lực để có thông tin đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Ngay cả, việc sử dụng mạng xã hội và mạng internet để tiếp cận thị trường vẫn còn là điểm yếu của các DNNVV.
Từ đó, mà khả năng hội nhập thị trường khu vực và các nước của các DNNVV Việt Nam c n hạn chế. Thiếu những năng lực trên làm cho các DNNVV tại Việt Nam khó tham gia được các chuỗi thị trường của các ngành hàng nên khó tiêu thụ sản phẩm trên cả nước và hội nhập thị trường các nước. - Những lợi thế của DNNVV trong hoạt động Tuy nhiên, các DNNVV nói chung và DNNVV Việt Nam nói riêng vẫn có những lợi thế cơ bản sau. + Tính linh hoạt trong chuyển đổi hoạt động kinh doanh Nhiều nhà kinh tế học cho rằng “nhỏ là tốt”.
Khẳng định này xuất phát 11 từ tính linh hoạt trong chuyển đổi sản xuất của các DNNVV. Đây là lợi thế mà các doanh nghiệp lớn không có được. Nhờ tính linh hoạt trong kinh doanh mà các DNNVV dễ lấp các khoảng trống của thị trường, có khả năng chống đỡ được những cú sốc của khủng hoảng kinh tế. Các DNNVV thường chọn những ngành nghề như kinh doanh thực phẩm, may mặc, nông sản là những ngành nghề hầu như ít bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế.
Khi khủng hoảng kinh tế, người tiêu dùng có thể không mua nhà, ô tô, các các hàng hoá thông thường khác, nhưng không thể không ăn uống và ăn mặc. + Lựa chọn các ngành nghề kinh doanh có lợi nhuận cao Qui mô nhỏ dẫn đến tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ đó là lợi thế của các DNNVV mà các doanh nghiệp lớn không có được. Nên các ngành kinh doanh ăn uống, lương thực thực phẩm, thời trang, may mặc, và những sản phẩm tiêu dùng là những sản phẩm thế mạnh của các DNNVV. Các nghiên cứu DNNVV tại Indonesia cho thấy rằng các doanh nghiệp DNNVV và siêu nhỏ tại Indonesia chiếm 99% (Agustine Eva Maria Soekesi, tham luận tại hội thảo SMEs Việt Nam tại Đà Nẵng ngày 2-4/8/2016), trong đó 60,42% hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm, và 70% là do phụ nữ làm chủ.
+ Khả năng sáng tạo cao và là thành viên chính của công nghiệp phụ trợ Những doanh nghiệp lớn như Google, Microsoft, Honda, Hoàng Anh Gai Lai xuất phát từ những doanh nghiệp nhỏ. Những ý tưởng kinh doanh luôn xuất phát từ những doanh nghiệp nhỏ có tinh thần khởi nghiệp cao, biết tiếp cận thị trường và luôn đổi mới để phát triển. Tại Hoa Kỳ, các DNNVV đóng góp trên 50% các phát minh. Tại Anh Quốc có đến 88% (Nguyễn Trường Sơn, 2014) các DNNVV áp dụng công nghệ mới hay có cải tiến về sản phẩm.
Và điều đặc biệt quan trọng là các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ chiếm đa số. Các doanh nghiệp như Honda, Canon tại Việt Nam sẽ có chi phí cao nếu không có các sản 12 phẩm gia công từ các DNNVV tại Việt Nam phục vụ như là vệ tinh của các doanh nghiệp lớn này. Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với nền kinh tế Việt Nam Theo cách phân loại này, ở Việt Nam hiện nay, số DNNVV chiếm 93% tổng số doanh nghiệp hiện có (theo kỷ yếu khoa học, dự án chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV ở Việt Nam, Học viện Chính trị Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh). DNNVV có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả với các nước có trình độ phát triển cao.