CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG HIỆU VÀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG HIỆU 1. Khái niệm thương hiệu Theo hiệp hội Marketing hoa kỳ: “Nhãn hiệu chính là một cái tên, từ ngữ, ký hiệu, biểu tượng, hình vẽ kiểu thiết kế,…, hoặc tập hợp của các yếu tố trên nhằm xác định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các đối thủ cạnh trạnh”. Khái niệm thương hiệu có nghĩa rộng hơn nhãn hiệu và nó chính là nội dung bên trong của nhãn hiệu hay nói cách khác nhãn hiệu là hình thức, là sự biểu hiện bên ngoài của thương hiệu.
Ngoài ra, thương hiệu còn có nhiệm vụ, tầm nhìn chiến lược để nâng cao giá trị của doanh nghiệp thông qua việc nâng cao giá trị thương hiệu. Một nhãn hiệu hàng hóa có thể dùng để thể hiện một thương hiệu nào đó, nhưng thương hiệu không phải chỉ được thể hiện bằng nhãn hiệu hàng hóa. Thương hiệu được biểu hiện là một dạng tài sản phi vật chất. Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “Thương hiệu là một dấu hiệu (hữu hình hay vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức”.
Đối với pháp luật Việt Nam không có khái niệm thương hiệu mà chỉ có khái niệm nhãn hiệu. Tại điều 4, khoản 16, Luật Sở hữu Trí tuệ 2005 định nghĩa: "Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Các thành phần của thương hiệu Một thương hiệu có thể được cấu tạo bởi hai phần: Luan van 10 - Phần phát âm được: là những yếu tố có thể đọc được, tác động vào thính giác của người nghe như tên doanh nghiệp, tên sản phẩm, câu khẩu hiệu, đoạn nhạc hát đặc trưng và các yếu tố phát âm được khác. - Phần không phát âm được: là những yếu tố không đọc được mà chỉ có thể cảm nhận bằng thị giác như hình vẽ, biểu tượng, màu sắc, kiểu dáng thiết kế và các yếu tố nhận biết khác.
Các yếu tố thương hiệu của một sản phẩm hoặc dịch vụ có thể được pháp luật bảo hộ dưới dạng là các đối tượng của sở hữu trí tuệ như: nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp và bản quyền. Giá trị thương hiệu Trên quan điểm khách hàng, thương hiệu xuất phát từ sự thừa nhận của khách hàng về một sản phẩm, dịch vụ. Khi muốn ăn nhanh, chúng ta nghĩ ngay đến thức ăn nhanh Kentucky. Hay nói đến ngân hàng, chúng ta nghĩ ngay đến HSBC.
Những thương hiệu khi tạo dựng được những giá trị như trên đó chính là giá trị thương hiệu. Không phải ngẫu nhiên khi một nhà sáng lập thương hiệu nổi tiếng đã nói: “Nếu ai đó lấy hết tài sản, máy móc, thiết bị, hệ thống kênh phân phối, vv. nghĩa là lấy đi tất cả những phần hữu hình và chỉ chừa lại duy nhất cái tên thì ông ta tin rằng sẽ có thể gầy dựng lại triều đại trong một thời gian ngắn Giá trị thương hiệu gồm có bốn yếu tố cấu thành: - Sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu (Brand loyalty): Khi một thương hiệu được chuyển nhượng trên thị trường thì lòng trung thành của khách hàng với thương hiệu là một yếu tố thường được cân nhắc kỹ lưỡng để đánh giá giá trị thương hiệu. Vì khi thương hiệu có một số lượng khách hàng nhất định trung thành tuyệt đối sẽ đem lại một doanh số và lợi nhuận cao, ổn định.
Luan van 11 Mặt khác, lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu sẽ tác động rất lớn đến chi phí marketing. Vì chi phí để giữ chân khách hàng cũ thường ít tốn kém hơn so với việc thu hút các khách hàng mới. Hơn nữa, sự trung thành của khách hàng cũ là một rào cản hữu hiệu đối với các đối thủ cạnh tranh. - Việc khách hàng nhận ra thương hiệu một cách mau chóng (Brand awareness): Nhận biết thương hiệu là khả năng mà một khách hàng tiềm năng có thể nhận biết hoặc gợi nhớ đến một thương hiệu.
Người mua thường lựa chọn thương hiệu mà mình đã biết bởi vì họ cảm thấy được an toàn và thoải mái hơn. Vì theo lệ thường thì một thương hiệu được nhiều người biết đến sẽ đáng tin cậy hơn và chất lượng sẽ tốt hơn. Sự nhận biết thương hiệu sẽ rất quan trọng đối với các mặt hàng tiêu dùng, mỗi khi mua hàng hóa thì người ta thường hoạch định thương hiệu từ trước. Trong trường hợp này thì những thương hiệu không được nhắc đến sẽ không có cơ hội được lựa chọn.
Sự nhận biết thương hiệu được tạo ra từ các chương trình truyền thông như quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân hay tại nơi trưng bày sản phẩm. Mức độ nhận biết thương hiệu chia thành 3 cấp độ khác nhau: Cấp độ cao nhất chính là thương hiệu được nhận biết đầu tiên (Top of mind); Cấp độ kế tiếp là không nhắc mà nhớ (Spontaneous); Cấp độ thấp nhất là nhắc để nhớ (Promt). - Chất lượng sản phẩm hay dịch vụ cung cấp trong nhận thức của khách hàng (Perceived quality): Yếu tố chính để người tiêu dùng so sánh các thương hiệu với nhau là chất lượng của nó. Chất lượng mà người tiêu dùng cảm nhận được là yếu tố để khách hàng làm căn cứ ra quyết định tiêu dùng.
Chất lượng cảm nhận này thường không trùng với chất lượng thật sự mà nhà sản xuất cung cấp bởi người tiêu dùng không phải là chuyên viên trong lĩnh vực này. Luan van 12 Chất lượng cảm nhận là một yếu tố liên hệ thương hiệu, nó được nâng lên thành một tài sản thương hiệu bởi những lý do sau: Một là: Trong số các yếu tố liên hệ thương hiệu, chỉ có yếu tố chất lượng được cảm nhận là chi phối kết quả tài chính. Có một nguyên tắc đã được thừa nhận về mối quan hệ này đó là: chất lượng được cảm nhận càng hoàn thiện, thu nhập trên vốn đầu tư càng được nâng lên. Hai là: Chất lượng được cảm nhận luôn là một sức ép chiến lược lớn đối với công việc kinh doanh.
Chất lượng cảm nhận được coi là mục đích cuối cùng của mọi chương trình quản lý chất lượng. Ba là: Chất lượng được cảm nhận được là thước đo tinh tế của thương hiệu. Chất lượng được cảm nhận có thể khác với chất lượng thực tế. - Những liên tưởng của khách hàng khi nghe hoặc nhìn thấy thương hiệu (Brand association): Một trong những thành phần đóng góp nhiều nhất vào giá trị thương hiệu đó là các liên hệ thương hiệu, đó là cách để khách hàng “sử dụng” một thương hiệu.
Các liên hệ thương hiệu mà khách hàng có thể cảm nhận và đánh giá là các thuộc tính sản phẩm, lợi ích của sản phẩm và thái độ của khách hàng đối với sản phẩm. Liên hệ thương hiệu được hình thành và dẫn đường bởi đặc tính của thương hiệu – đó chính là cái mà công ty muốn thương hiệu đại diện trong tâm trí khách hàng. Nó bao gồm: Thuộc tính: những đặc điểm mang tính chất mô tả của sản phẩm và dịch vụ. Thuộc tính gắn liền với sản phẩm và thuộc tính không gắn liền với sản phẩm; Lợi ích: là giá trị và ý nghĩa mang tính cá nhân của khách hàng cảm nhận về các thuộc tính sản phẩm và dịch vụ.
Gồm lợi ích chức năng, lợi ích biểu tượng và lợi ích kinh nghiệm; Thái độ của khách hàng về thương hiệu: đây là mức độ cao nhất và trừu tượng nhất của liên hệ thương hiệu. Nó thể hiện sự đánh giá tổng thể của khách hàng về một thương hiệu và đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn thương hiệu khi mua hàng. Luan van 13 Như vậy, Giá trị thương hiệu không phải là giá trị tiền mặt của thương hiệu. Các phương pháp định giá thương hiệu a.
Mục đích của việc định giá thương hiệu Ngày nay, khi mà khoảng cách giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách của doanh nghiệp ngày càng lớn thì sự quan tâm đến giá trị của tài sản vô hình là thương hiệu ngày càng gia tăng. Việc định giá thương hiệu không chỉ nhằm phục vụ cho các mục đích như mua, bán, sáp nhập hoặc hợp tác chiến lược, nhượng quyền thương hiệu mà còn phục vụ cho các mục đích trong nội bộ doanh nghiệp. Theo một nghiên cứu của Interbrand (Công ty tư vấn thương hiệu nổi tiếng của Mỹ) kết hợp với J.P Morgan (John Pieront Morgan) đã kết luận rằng thương hiệu đóng góp vào 1/3 giá trị cho cổ đông. Công trình nghiên cứu cũng cho rằng thương hiệu tạo ra một giá trị đáng kể cho người tiêu dùng, doanh nghiệp hoặc cả hai.
Các phương pháp định giá thương hiệu * Những phương pháp dựa vào nghiên cứu tiêu dùng Hiện nay có nhiều mô hình dùng nghiên cứu tiêu dùng để định giá tài sản thương hiệu. Những mô hình này không áp giá trị tài chính lên thương hiệu, mà đo lường những hành vi và thái độ của người tiêu dùng có tác động đến hiệu quả kinh tế của thương hiệu. Những mô hình này sử dụng nhiều số đo khác nhau về cảm nhận của người tiêu dùng như mức độ nhận biết, hiểu rõ, quen thuộc về sản phẩm, những đặc điểm hình ảnh cụ thể, những yếu tố cân nhắc khi mua sắm, sở thích, mức độ thỏa mãn và giới thiệu với người khác. Bằng phân tích thống kê, các mô hình này đánh giá tác động tổng hợp đối với hành vi mua sắm của người tiêu dùng, từ đó ước tính giá trị tài chính Luan van 14 của thương hiệu.
Tuy nhiên, những phương pháp này không phân biệt tác động của cá yếu tố quan trọng như nghiên cứu, phát triển và thiết kế đối với thương hiệu. Do đó, chúng không thể hiện được mối liên hệ giữa những chỉ số marketing cụ thể với hiệu quả tài chính của thương hiệu. Một thương hiệu có thể đạt kết quả rất cao với những chỉ số này nhưng vẫn không tạo được giá trị tài chính. Hiểu được những yếu tố đó sẽ rất có ích cho việc đánh giá những hành vi mua sắm quyết định thành bại của một thương hiệu.
Nhưng nếu không được tích hợp vào một mô hình kinh tế, chúng sẽ chưa đủ để đánh giá giá trị kinh tế của thương hiệu.