Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về thanh toán viện phí không dùng tiền mặt. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng dịch vụ thanh toán viện phí không dùng tiền mặt tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Mai. Chương 4: Giải pháp phát triển thanh toán viện phí không dùng tiền mặt tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hoàng Mai.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Thanh toán không dùng tiền mặt được xem là một trong những vấn đề quan trọng trong việc thúc đẩy minh bạch hóa các hoạt động kinh tế tài chính, góp phần giúp cho các giao dịch thanh toán được thực hiện nhanh chóng, an toàn, tiện lợi và giảm chi phí tài chính. Chính vì vậy, việc tham khảo kinh nghiệm phát triển không dùng tiền mặt trên thế giới để rút ra những giải pháp phù hợp với thực tiễn trong nước là điều rất cần thiết.
Trong xu hướng toàn cầu hóa và tự do hóa tài chính, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ cùng các chính sách phát triển bền vững của Chính phủ đã tạo nền tảng vững chắc cho hiện đại hóa hệ thống thanh toán, thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, từng bước giúp người dân và doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng một cách dễ dàng, thuận tiện. TTKDTM đã và đang trở thành phương tiện thanh toán phổ biến và được nhiều quốc gia khuyến khích sử dụng, nhất là các phương tiện thanh toán điện tử. Một số nghiên cứu ngoài nước tiêu biểu về chủ đề này như sau: Theo tác giả Raymond Ezejiofor (2013), Reseach Journal of finance and Accounting: An Appraisal of Cashless Economy Policy in Devolopment of Nigierian Econnomy. Đây là một bài nghiên cứu sâu có sử dụng một số kiểm định theo phương pháp kinh tế lượng để kiểm định giả thiết, bài viết được đăng trên tạp chí chuyên ngành tài chính và Kế toán của Nigeria.
Nghiên cứu nàycủa tác giả xuất phát từ thực tế Nigiêria chưa đủ tiềm lực để chấp nhận và xây dựng các chính sách kinh tế phi tiền mặt rộng khắp cả nước. Vấn đề rõ ràng ở đây là cấp độ phát triển chưa cao cả về kỹ thuật và giáo dục. Mục đích của nghiên cứu này là xem xét các lợi ích căn bản và các yếu tố cơ bản, cũng như mức độ có thể nâng cao sự tăng trưởng ổn định tài chính tại quốc gia này. Hai giả thuyết được hình thành trong bài viết phù hợp với mục đích của nghiên cứu.
Mẫu mô tả sử dụng trong nghiên cứu 6 này là mẫu cỡ điều tra kích cỡ 135 người và sử dụng kỹ thuật phân tích mẫu theo tiêu chuẩn quốc tế. Dữ liệu sơ cấpthu thập thông qua điều tra bằng bảng hỏi. Dữ liệu thu thập được xác thực qua các kiểm tra logic và kỹ thuật ANOVA; mô hình phương sai bình phương được sử dụng để kiểm tra các giả thuyết. Kết quả cho thấy: phần lớn người Nigeria có nhận thức về chính sách và số đông đồng thuận với nhận định chính sách sẽ góp phần thúc đẩy cuộc chiến phòng chống rửa tiền, tham nhũng và giảm rủi ro xảy ra khi mang theo tiền mặt.
Các rào cản chính dự tính ngăn cản việc triển khai chính sách là tội phạm công nghệ mạng và trình độ dân trí. Dựa trên các phát hiện đưa ra một vài khuyến nghị: chính phủ nên triển khai chiến lược tập trung vào đào tạo người dân ít hiểu biết về kinh tế phi tiền mặt, và khung đào tạo cần thiết kế đảm bảo an ninh cho các giao dịch thanh toán qua mạng tại Nigeria. Cũng nghiên cứu về chính sách nền kinh tế không dùng tiền mặt tại Nigeria, tác giả Princewell N Archo và Anuforo Robert đã thực hiện mô tả bước chuyển của Nigeria từ một nền kinh tế tiền mặt sang xã hội phi tiền mặt. Kể từ khi công bố chính sách phi tiền mặt, các bên liên quan đã có những quan điểm rất khác nhau về chính sách này.
Bài nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp điều tra trên 650 người (bao gồm doanh nhân, sinh viên, dân thành thị), kết quả cho thấy rằng đa số ủng hộ chính sách này. Nguyên nhân chủ yếu họ ủng hộ là hy vọng sẽ giảm được nạn ăn cắp tiền mặt, tham nhũng và một số hành vi lừa đảo. Mặt khác những người phản đối lo ngại về gian lận khi phát triển nền kinh tế phi tiền mặt, bên cạnh đó là nạn mù chữ và phân cấp trong xã hội Nigeria. Do đó, việc nâng cao nhận thức của người dân về thanh toán không dùng tiền mặt rất được ủng hộ (theo Princewell N Achor and Anuforo Robert (2013), Afro Asian Journal of Social Sciences: Shifting Policy Paradigm from Cash Based Economy to Cashless Economy: The Nigieria Experience).
Người dân cần được tham gia các buổi hội thảo, đào tạo để hiểu về thanh toán không dùng tiền mBên cạnh đó, phân tích về thanh toán không dùng tiền mặt theo hình thức thẻ thanh toán, một báo cáo nghiên cứu chuyên sâu về thị trường thẻ của Hàn Quốc, một trong những nước có nền kinh tế khá phát triển và có dịch vụ 7 thanh toán không dùng tiền mặt vào “Top” những những nước phát triển nhất thế giới. Nghiên cứu của BC Card được thực hiện nghiên cứu trong nội bộ về hành vi sử dụng thẻ tín dụng và các phát sinh trong nội bộ Hàn Quốc với mục tiêu phục vụ hoạt động kinh doanh phát hành thẻ tín dụng của BC Card (Nguồn: BC Card (2009), Market Report Research: Korea Credit Card Market-Recent Trend and Issues. Cũng tại thị trường Hàn Quốc, theo thông tin từ Group Executive GP&S (2011), Master Card International: War Against Cash-Korea Experience., tổ chức thẻ Quốc tế Master Card có báo cáo chuyên sâu về các chính sách mà chính phủ Hàn Quốc đã áp dụng để chống lại nền kinh tế tiền mặt trong những năm vừa qua. Trong báo cáo cũng chỉ ra một số lợi ích, tiềm năng mà phát triển thanh toán không dùng tiền mặt (chủ yếu là Thẻ thanh toán, thẻ tín dụng) mang lại cho người dân và các ngân hàng cũng như những chính sách khá “cứng rắn” mà chính phủ Hàn Quốc áp dụng trong nhiều năm để phát triển bền vững dịch vụ thẻ, nhất là trong các giai đoạn khủng hoảng thẻ tín dụng ở Hàn Quốc giai đoạn 1997-2002.
Ngoài các nghiên cứu về lĩnh vực thẻ thanh toán tại Hàn Quốc, một báo cáo nghiên cứu chuyên sâu về ứng dụng thanh toán điện tử trong chính phủ - một điều kiện căn bản cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt do Econnomist Intellgene Unit thực hiện để đo lường mức độ phát triển/chưa phát triển ứng dụng thanh toán điện tử của chính phủ qua các cuộc điều tra năm 2007 và 2011, trong đó Việt Nam đã được đưa vào đánh giá trong đợt điều tra thứ hai với mức độ phát triển ứng dụng này thuộc nhóm trung bình và top giữa ở khu vực Đông Nam Á (nguồn : EIU Report (2012), Presentation to Visa: Government E-payment Adoption Ranking- A Global Index and Benchmarking Study. Trong khi đó, tại quốc gia láng giềng với Việt Nam, tại luận án tiến sỹ của NCS KhamPha Panmalaythong (Lào) về “Hoàn thiện và Phát triển thanh toán Không dùng tiền mặt của Kho bạc Quốc Gia Lào, 2012” cũng đề cập tới vấn đê này. Đây là công trình nghiên cứu công phu của NCS và đề tài cấp nhà nước về một nước có nền kinh tế kém phát triển trong việc ứng dụng thanh toán không dùng tiền 8 mặt, tuy nhiên cũng như một số công trình khác, Luận án này tác giả chỉ nghiên cứu thanh toán không dùng tiền mặt trong phạm vi thanh toán qua Kho bạc Quốc Gia của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nên tập trung đề cập hầu như đến các thanh toán liên quan đến cấp/phát ngân sách mà không đề cập đến các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt phục vụ dân cư như thẻ thanh toán, internet banking… - Ngoài ra có một số công trình/nghiên cứu/báo cáo khác có liên quan đến thanh toán không dùng tiền mặt đã được các Tổ chức/cá nhân nước ngoài thực hiện nhằm cung cấp cho các tổ chức của họ hoặc là phục vụ kinh doanh bán cho các cá nhân đơn vị có liên quan ở các nước phục vụ nghiên cứu xây dựng chính sách hoạt động quản lý/kinh doanh như: + Lafferty (2013), World Cards intelligence Report: Vietnam Report + Lafferty (2013), World Cards intelligence Report: Indonesia Report + Lafferty (2013), World Cards intelligence Report: China Report + Lafferty (2013), World Cards intelligence Report: Korea Report + Master Card International advisor (2013): The Global Journey from Cash to Cashless + Master Card advisor’s Cashless Journey (2013): Spotlight on Indonesia + RBR Research (2012): Global ATM Market and forecasts to 2017- Executive summary for Participiants: Asia-Pacific Nhìn chung các công trình nghiên cứu ở nước ngoài này thường đề cập đến các khía cạnh chuyên sâuchuyên biệt về của từng loại dịch vụ cụ thể của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (ATM, Cashless…). Cũng có một số công trình hoặc nghiên cứuđánh giá chung về xu hướng phát triển của thanh toán không dùng tiền mặt ở một số quốc gia cụ thể (Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc,…).
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đánh giá đầy đủ từ lý luận tới đánh giá thực trạng và giải pháp cụ thể cho một NHTM nào. chứ chưa phải là các công trình nghiên cứu được triển khai quy mô từ chọn khung lý thuyết đến đánh giá thực tiễn và các giải pháp thực hiện. Các nghiên cứu rong nướctại Việt Nam 9 Tại Việt Nam, vấn đề TTKDTM và phát triển TTKDTM được quan tâm và chú trọng tìm hiểu,nhiều tác giả nghiên cứu. Điển hình như các nghiên cứu dưới đây: Luận án tiến sỹ “Phát triển Dịch vụ TTKDTM cho khu vực dân cư tại Việt Nam”, của Đặng Công Hoàn (2015), trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN.
Đề tài đã đánh giá được thực trạng phát triển của dịch vụ TTKDTM cho khu vực dân cư tại nước ta hiện nay, làm rõ vai trò của các chính sách của Nhà nước trong việc thúc đẩy và phát triển dịch vụ TTKDTM cho khu vực dân cư tại nước ta hiện nay. Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của Đỗ Thị Khánh Ngọc (2014), Đại học Thái Nguyên với nội dung “Đẩy mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Thái Nguyên” của Đỗ Thị Khánh Ngọc (2014), Đại học Thái Nguyên.