Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Trình bày các cơ sở lý thuyết khoa học và những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế trên thế giới. Chương 3: Trình bày mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài. Chương 4: Trình bày các kết quả nghiên cứu của đề tài.
Chương 5: Đưa ra các kết luận của đề tài. Cuối cùng là phần: Tài liệu tham khảo và các Phụ lục. 123doc 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết khoa học 2.1 Phát triển tài chính Theo Adnan, Noureen (2011) trong tác phẩm “Measurement of Financial Development: A Fresh Approach” đề cập đến thuật ngữ “phát triển tài chính”. Theo đó, phát triển tài chính (financial development) được định nghĩa là các chính sách, các yếu tố và các tổ chức đưa đến các trung gian tài chính và thị trường tài chính hiệu quả.
Phát triển tài chính theo chiều rộng đề cập đến phát triển tài chính chủ yếu dựa vào yếu tố vốn đầu tư và lao động. Phát triển kinh tế theo sự phát triển tài chính theo chiều rộng mang ý nghĩa là gia tăng lượng vốn đầu tư phù hợp với sự gia tăng của lao động. McKinnon (1991) trong tác phẩm “The Order of Economic Liberalization: Financial Control in the Transition to a Market Economy” đề cập đến thuật ngữ “phát triển tài chính theo chiều sâu”, theo đó phát triển tài chính theo chiều sâu là sự gia tăng tỉ lệ giá trị các tài sản tài chính so với GDP. Hệ thống tài chính có vai trò quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua việc thực hiện hai chức năng chính là dẫn vốn và sàng lọc, hỗ trợ dự án hiệu quả.
Khái niệm chiều sâu tài chính tập trung vào chức năng thứ nhất của hệ thống tài chính. Đối với chức năng dẫn vốn, hệ thống tài chính điều tiết nguồn vốn từ nơi tạm thời thừa vốn đến nơi tạm thời thiếu vốn, từ đó tích lũy vốn để đầu tư vào nền kinh tế. Phát triển hệ thống tài chính theo chiều sâu là khuyến khích tiết kiệm, tăng đầu tư, từ đó tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thể hiện cuối cùng ở sự gia tăng tỉ lệ giá trị của các tài sản tài chính so với GDP. 123doc 9 Hệ thống tài chính với nhiều loại tài sản tài chính sẽ khuyến khích tiết kiệm và gia tăng đầu tư; Khi đó: • Người tiết kiệm tìm thấy nhiều cơ hội đầu tư trong hệ thống tài chính.
• Nhà đầu tư có thể tiếp cận nguồn tiết kiệm trên thị trường để gia tăng vốn đầu tư. Theo Trần Thị Quế Giang (2013) trong “Tài chính toàn cầu và vai trò của tài chính đối với phát triển kinh tế” (xem phụ lục số 7(a)), có một số thước đo mức độ phát triển tài chính thường được sử dụng, cụ thể: Thước đo mức độ phát triển tài chính thường được sử dụng phổ biến đó là tỉ số cung tiền M21 so với GDP (M2/GDP) hay tỉ số M32 so với GDP (M3/GDP). Tỉ lệ này cho biết quy mô của khu vực trung gian tài chính so với nền kinh tế. Thước đo kế tiếp là tỉ số tín dụng tư nhân (Private credit) so với GDP (PC/GDP).
Chỉ số này chỉ ra mức độ cao hơn của dịch vụ tài chính và do đó chỉ ra mức độ phát triển lớn hơn của ngân hàng. Ngoài ra, còn có thể sử dụng tỉ số Tổng tài sản của hệ thống ngân hàng thương mại so với tổng tài sản của ngân hàng trung ương làm thước đo mức độ phát triển tài chính. Chỉ số này cho biết mức độ các ngân hàng thương mại có nhiều khả năng huy động tiết kiệm, lựa chọn các đầu tư với lợi nhuận tốt, quản lý rủi ro hiệu quả và giám sát các chủ dự án tốt hơn là ngân hàng trung ương. Bên cạnh đó, còn có thể sử dụng tỉ lệ tài sản ngân hàng với tài sản ngân hàng cộng với tài sản ngân hàng trung ương.
Mục 1 M1: Khối tiền có tính lỏng cao, gồm Tiền mặt, vàng, ngoại tệ, séc du lịch, tiền gửi không kì hạn ,… M2: Khối tiền mở rộng, gồm M1 cộng với tiền gửi tiết kiệm, thương phiếu, tiền gửi có kì hạn dưới 1 năm, … 2 M3: gồm M2 cộng với Tiền gửi có kì hạn trên 1 năm, trái phiếu ngân hàng, các giấy tờ có giá khác … 123doc 10 đích để đo lường tầm quan trọng tương đối của ngân hàng so với cơ quan tiền tệ. Ngoài ra, còn có thể sử dụng thước đo là tỉ lệ mức độ vốn hóa trên thị trường chứng khoán so với GDP. Thước đo này đo lường quy mô tương đối của thị trường vốn trong một nền kinh tế. Ngoài ra, còn có một số thước đo mức độ phát triển tài chính như Biên lãi suất thực (Net Interest Margin: đo lường chênh lệch giữa chi phí mà các ngân hàng phải trả cho người cung cấp vốn với thu nhập mà các ngân hàng nhận được từ những công ty và người đi vay.
Thước đo này đo lường hiệu quả (efficiency) của hệ thống ngân hàng), Chỉ số tự do hóa khu vực tài chính, ngân hàng (Freedom in Banking and Finance index: là chỉ số đo lường độ mở của hệ thống tài chính - ngân hàng, được xây dựng bởi tổ chức The Heritage Foundation của Mỹ),. Ngoài ra, theo Ngân hàng Thế giới trong “Global Financial Development Database”, còn có một số thước đo phát triển tài chính khác chẳng hạn như tỷ lệ tổng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng so với GDP (Bank deposits to GDP) hay tỷ lệ tài sản của tổ chức tài chính so với GDP (Financial Institutions’ asset to GDP). Những chỉ tiêu này đo lường quy mô hay độ lớn tổng thể của các trung gian tài chính trong nền kinh tế.2 Tăng trưởng kinh tế Theo Kulkarni, Kishore G. (2008) trong chương 3 của tác phẩm “Principles of Macro-Monetary Economics”, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc thu nhập bình quân đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Như vậy, tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. 123doc 11 Trong các nghiên cứu, phần lớn các tác giả thường đo lường chỉ tiêu này bằng GDP hoặc GDP bình quân đầu người. GDP lần đầu tiên được phát triển bởi Simon Kuznets trong một báo cáo Quốc hội Mỹ vào năm 1934. Sau hội nghị Bretton Woods năm 1944, GDP đã trở thành công cụ chính để đo lường nền kinh tế của một quốc gia.3 Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế Lý thuyết về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế được khởi xướng bởi Schumpeter (1912), Debreu (1959), Arrow (1964).
Joseph Schumpeter (1912) trong “Lý thuyết phát triển kinh tế” lập luận rằng một hệ thống tài chính vận hành tốt giúp đưa tiết kiệm vào đầu tư, thúc đẩy cải tiến kĩ thuật và từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế. Phát triển tài chính là cần thiết cho tăng trưởng3. Sự phát triển các thể chế tài chính như ngân hàng, thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu, công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí là cần thiết để hỗ trợ đầu tư vốn cố định, tăng khả năng doanh nghiệp tiếp cận vốn lưu động chi tiêu lương và đầu vào sản xuất, tạo cơ chế dàn trải rủi ro và đảm bảo rằng nền kinh tế có đủ thanh khoản hoàn thành những giao dịch cần thiết. Những thể chế này tập hợp vốn từ người tiết kiệm và chuyển sang cho bên vay, qui trình này gọi là trung gian (tài chính).
Trong những thời kỳ đầu của các phân tích liên quan, các nghiên cứu ứng dụng và khảo sát thực nghiệm của Goldsmith (1969) và McKinnon (1973) trong số nhiều tác giả khác đã chứng minh các mối liên kết chặt chẽ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế dài hạn tại hầu hết các nước qua nhiều năm4. Phát triển tài chính đã được đánh giá như là một định tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế và những biến đổi của nó giữa các nước. 3 Xem phụ lục số 7 (b) “Tự do hóa tài chính và tăng trưởng” do Nguyễn Quý Tâm biên dịch, chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright niên khóa 2010-2012. 4 Xem phụ lục số 7 (c) “Tài chính, tăng trưởng và phát triển kinh tế” do Hải Đăng biên dịch, chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright niên khóa 2011-2013.
123doc 12 Trung gian tài chính có tiềm năng giảm thiểu chi phí tìm kiếm và xử lý các thông tin tài chính liên quan đến việc thực hiện quyết định và trao đổi giao dịch. Các trung gian tài chính này làm tăng phúc lợi người tiêu dùng khi tiếp cận được tới công chúng, vì vậy làm gia tăng tiết kiệm và giảm bớt các đặc trưng độc quyền của các giao dịch tín dụng. Vai trò của trung gian tài chính trong việc giảm các mức phi kinh kế của thanh khoản trong hệ thống hộ gia đình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với sự huy động vốn tốt hơn cho việc sử dụng hiệu quả. Việc mở rộng tối ưu của trung gian tài chính cũng có thể làm giảm tổn thất phúc lợi mà tạo ra từ sự cạnh tranh không hoàn hảo trong khu vực ngân hàng và các khu vực liên quan khác.
Các nguồn lực, công cụ, thị trường và thể chế tài chính đóng góp vào việc giảm bớt chi phí giao dịch và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn. Các chức năng của hệ thống tài chính bao gồm việc đối chiếu so sánh và xử lý các thông tin có liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch, quản lý rủi ro, mua bán rủi ro như là một nhân tố của quản lý rủi ro, phân bổ vốn, huy động và hướng dẫn các nguồn lực (tiết kiệm từ kinh tế nội địa và các nguồn lực tài chính bên ngoài) và cho phép ký kết và thực hiện các khế ước tài chính. Phát triển tài chính đóng góp cho tăng trưởng kinh tế chủ yếu thông qua giảm bớt chi phí cung cấp vốn và tinh thần doanh nhân được tăng cường. Cả hai nhân tố này thúc đẩy sự đổi mới, và tạo ra một nền tảng cơ sở hạ tầng kinh tế cho việc thúc đẩy thương mại và tài chính quốc tế.
Những yếu tố này cấu thành nên các nguồn bổ sung cho tăng trưởng kinh tế là tăng thêm nguồn lực cho phát triển kinh tế.