Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sản xuất nông nghiệp giữ vai trò cốt lõi trong đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn nông thôn Việt Nam. Theo quy định pháp luật hiện hành, cây hàng năm là loại cây trồng được gieo trồng, cho thu hoạch và kết thúc chu kỳ sản xuất trong thời gian không quá một năm (kể cả cây lưu gốc thu hoạch không quá năm năm), bao gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác. Tại xã Đức Quang, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng, sản xuất cây hàng năm là ngành sinh kế chính của hơn 99% dân số địa phương nhờ lợi thế đất đai thổ nhưỡng và tập quán canh tác lâu đời. Các nông sản hàng năm như ngô, lúa, sắn không chỉ cung cấp lương thực thiết yếu mà còn là nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến thực phẩm và thức ăn chăn nuôi gia súc.

Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất cây hàng năm tại xã Đức Quang đang đối mặt với nhiều rào cản nội tại và ngoại cảnh:

  • Đất đai canh tác manh mún, phân tán; địa hình núi đá vôi hiểm trở gây chia cắt và khó khăn cho giao thông nội đồng.
  • Công cụ sản xuất chủ yếu là thủ công thô sơ, mức độ cơ giới hóa rất thấp, người dân chưa tiếp cận rộng rãi với máy móc hiện đại.
  • Hoạt động canh tác phụ thuộc nặng nề vào điều kiện thời tiết, lượng mưa phân bố không đều dẫn đến khô hạn cục bộ trong mùa khô và ngập úng kèm dịch bệnh trong mùa mưa, cùng với hiện tượng mưa đá gây thất thu mùa vụ.
  • Tình trạng biến động thị trường theo quy luật "được mùa mất giá, được giá mất mùa"; khả năng bảo quản, sơ chế sau thu hoạch còn hạn chế.
  • Tiềm năng đất chưa sử dụng còn tồn tại 20,37 ha và nguồn lao động trong độ tuổi lớn (1.134 người vào cuối năm 2019) nhưng chưa được khai thác đồng bộ do thiếu hụt nguồn vốn đầu tư và kỹ thuật thâm canh.

Từ bối cảnh thực tiễn trên, tác giả thực hiện nghiên cứu với các mục tiêu cụ thể:

  • Mục tiêu tổng quát: Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất sản phẩm cây hàng năm của nông hộ xã Đức Quang, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2021 - 2025, nhằm tăng thu nhập cho người dân và thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất sản phẩm cây hàng năm của nông hộ.
    2. Tìm hiểu, đánh giá thực trạng cũng như kết quả, hiệu quả sản xuất sản phẩm cây hàng năm của nông hộ trên địa bàn xã Đức Quang.
    3. Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất sản phẩm cây hàng năm tại địa bàn nghiên cứu.
    4. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất sản phẩm cây hàng năm của nông hộ xã Đức Quang giai đoạn 2021 - 2025.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động sản xuất sản phẩm cây hàng năm và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất của nông hộ tại xã Đức Quang.
  • Địa điểm nghiên cứu: Xã Đức Quang, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện khảo sát từ tháng 01/2020 đến tháng 05/2020; sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2017 - 2019 và số liệu sơ cấp thu thập năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận kinh tế phát triển và kinh tế nông nghiệp:

  • Khung lý thuyết và khái niệm: Vận dụng nguyên lý của Triết học Mác - Lênin về quy luật lượng - chất trong phát triển; khái niệm phát triển sản xuất nông sản là quá trình biến đổi tiến bộ về phương thức, quy mô, cơ cấu và hiệu quả sử dụng nguồn lực để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Khung nội dung phát triển gồm 4 trụ cột: khai thác hiệu quả đất đai, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tối ưu hóa nguồn nhân lực và chủ động thích ứng biến đổi khí hậu.
  • Cơ sở pháp lý: Áp dụng các định mức phân bổ đất đai theo Điều 4 Luật Đất đai năm 2013 và các chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn của Nhà nước.
  • Bài học kinh nghiệm thực tiễn: Khảo sát các mô hình thành công tại miền núi phía Bắc gồm: thâm canh tăng vụ ngô tại vùng cao Hà Giang; quy hoạch 3 mùa vụ ngô tại Điện Biên; chuyển đổi đất lúa 1 vụ sang trồng ngô tại Sìn Hồ (Lai Châu); và mô hình giống sắn mới BK xen canh cây lạc cải tạo đất dốc tại Chiềng Mung, huyện Mai Sơn (Sơn La).
                    Công thức Slovin: n = N / (1 + N * e^2)
                    (Độ tin cậy: 90%, Sai số cho phép: e = 10%)
                       Phương pháp chọn mẫu hệ thống (k = N/n)

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên Slovin (1960) với độ tin cậy 90% và sai số cho phép $e = 0,10$: $$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$ Tổng số mẫu tính toán là 78 hộ, được phân bổ đều cho 3 xóm đại diện theo phương pháp chọn mẫu hệ thống với bước nhảy $k = N/n$: xóm Coỏng Hoài (26 hộ), xóm Đoàn Kết (26 hộ), và xóm Nà Sao (26 hộ).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ niên giám thống kê, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội và khuyến nông của UBND xã Đức Quang giai đoạn 2017 - 2019, tư liệu từ Viện Nghiên cứu Ngô, Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Hiệp hội Sắn Việt Nam.
    • Dữ liệu sơ cấp: Thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc trực tiếp 78 chủ hộ nông dân bằng phiếu khảo sát, phỏng vấn sâu cán bộ chuyên trách nông nghiệp xã, kết hợp quan sát thực địa về địa hình canh tác và cơ sở hạ tầng.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu được làm sạch, tổng hợp và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh, phân tích cơ cấu chi phí trung gian (IC), giá trị sản xuất (GO), giá trị gia tăng (VA) và năng suất lao động để đánh giá hiệu quả kinh tế cây trồng.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc phát triển cây hàng năm tại xã Đức Quang - nơi nông nghiệp chiếm trọn nguồn sinh kế nhưng quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ. Xác định hệ thống mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý phát triển nông thôn tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Hệ thống hóa lý luận về bản chất của phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa và các nhân tố quyết định (đất đai, vốn, kỹ thuật, thị trường, lao động). Tổng hợp kinh nghiệm chuyển đổi mùa vụ và xen canh cây họ đậu chống xói mòn đất dốc từ các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Điện Biên, qua đó rút ra bài học về giao quyền sử dụng đất lâu dài và chuyển giao tiến bộ giống mới.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Thiết lập phương pháp luận nghiên cứu thực địa; quy định hệ thống chỉ tiêu tính toán hiệu quả kinh tế (GO/IC, VA/IC, VA/Lao động); mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu Slovin 78 hộ tại 3 xóm Coỏng Hoài, Đoàn Kết, Nà Sao cùng các kỹ thuật thu thập, xử lý dữ liệu qua bảng tính.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung phản ánh hiện trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội toàn xã và đi sâu phân tích dữ liệu khảo sát từ 78 hộ sản xuất.

1. Hiện trạng đất đai và sản xuất nông nghiệp toàn xã (2017 - 2019): Tổng diện tích tự nhiên của xã Đức Quang là 3.667,47 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối nhưng đang có xu hướng giảm nhẹ do chuyển đổi mục đích sử dụng.

STT Mục đích sử dụng Năm 2017 (ha) Cơ cấu (%) Năm 2018 (ha) Cơ cấu (%) Năm 2019 (ha) Cơ cấu (%)
1 Đất nông nghiệp 3.541,95 96,58 3.538,98 96,49 3.535,18 96,39
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 307,54 8,39 304,93 8,31 301,92 8,23
- Đất sản xuất cây hàng năm 294,30 8,02 292,50 7,97 290,58 7,92
- Đất trồng cây lâu năm 13,24 0,36 12,43 0,34 11,34 0,31
1.2 Đất lâm nghiệp 3.232,18 88,13 3.232,18 88,13 3.232,18 88,13
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 2,23 0,06 1,87 0,05 1,09 0,03
2 Đất phi nông nghiệp 105,15 2,86 108,12 2,94 111,92 3,05
3 Đất chưa sử dụng 20,37 0,56 20,37 0,56 20,37 0,56
Tổng diện tích tự nhiên 3.667,47 100,00 3.667,47 100,00 3.667,47 100,00

Về sản xuất trồng trọt năm 2019, toàn xã gieo trồng 119,3 ha lúa mùa (năng suất 40 tạ/ha, sản lượng 472 tấn); 69,6 ha ngô ruộng (năng suất 37,8 tạ/ha, sản lượng 263 tấn); 34,7 ha ngô rẫy (năng suất 36,6 tạ/ha, sản lượng 127 tấn); 45 ha sắn (năng suất 110 tạ/ha, sản lượng 495 tấn); 8,3 ha đỗ tương (sản lượng 6,4 tấn) và 4,64 ha khoai tây (sản lượng 4,64 tấn). Năng suất ngô rẫy thấp hơn ngô ruộng 1,2 tạ/ha do đất dốc, nhiều đá và bạc màu.

Về chăn nuôi giai đoạn 2017 - 2019: Đàn trâu giảm từ 1.068 con xuống 923 con (giảm 145 con); đàn bò giảm từ 712 con xuống 634 con do cơ giới hóa thay thế sức kéo; đàn ngựa giảm từ 178 con xuống 94 con do chuyển sang vận chuyển bằng xe máy; đàn lợn suy giảm nghiêm trọng vì dịch tả lợn châu Phi; trong khi đàn gia cầm tăng lên 6.245 con nhằm bù đắp nguồn thực phẩm.

2. Đặc điểm nhóm nông hộ khảo sát (n = 78): Chủ hộ là nam giới chiếm 87,18%, nữ giới chiếm 12,82%; độ tuổi bình quân là 46 tuổi; thành phần dân tộc chủ yếu gồm người Tày (75,64%) và người Nùng (24,36%). Trình độ học vấn của chủ hộ tập trung ở cấp THCS (42,31%), tiểu học (26,92%), THPT (26,92%), tỷ lệ mù chữ chiếm 3,85% (tập trung ở xóm Nà Sao) và không có chủ hộ nào đạt trình độ cao đẳng, đại học. Quy mô nhân khẩu bình quân đạt 4,77 người/hộ nhưng số lao động bình quân chỉ đạt 3,53 lao động/hộ.

Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Coỏng Hoài (n=26) Đoàn Kết (n=26) Nà Sao (n=26) Bình quân / Tổng
Tuổi bình quân chủ hộ Tuổi 46 47 45 46
Tỷ lệ chủ hộ là Nam % 88,46 76,92 96,15 87,18
Tỷ lệ dân tộc Tày % 46,15 80,77 100,00 75,64
Trình độ học vấn THCS % 42,31 38,46 46,15 42,31
Số nhân khẩu bình quân Người/hộ 4,10 5,20 5,00 4,77
Số lao động bình quân LĐ/hộ 3,50 3,60 3,50 3,53
Diện tích gieo trồng CHN $\text{m}^2/\text{hộ}$ 10.982,0 3.771,2 4.297,8 6.350,3
So với hạn mức đất (Luật Đất đai 2013) Lần 0,55 0,19 0,21 0,32

3. Chi phí sản xuất và phân phối nông sản: Chi phí đầu tư mua vật tư phục vụ canh tác bình quân giữa các xóm có sự chênh lệch theo quy mô diện tích:

  • Cây lúa: Chi phí bình quân tại Coỏng Hoài là 4.445.000 đồng/hộ/vụ (giống 15 kg trị giá 1.125.000 đồng, supe lân 190 kg trị giá 1.430.000 đồng, thuốc BVTV 8 lọ trị giá 200.000 đồng); Đoàn Kết và Nà Sao đầu tư khoảng 3.000.000 đồng/hộ/vụ.
  • Cây ngô: Chi phí tại Coỏng Hoài là 3.925.000 đồng/hộ/vụ (giống 7 kg trị giá 805.000 đồng, supe lân 80 kg trị giá 440.000 đồng, đạm 150 kg trị giá 1.100.000 đồng, thuốc BVTV 4 lọ trị giá 120.000 đồng); Đoàn Kết đạt 2.000.000 đồng/hộ/vụ; Nà Sao đạt 1.000.000 đồng/hộ/vụ.
  • Cây sắn: Tận dụng giống cũ (chi phí giống bằng 0), tổng chi phí tại Coỏng Hoài là 1.000.000 đồng/hộ/vụ, Đoàn Kết 1.000.000 đồng/hộ/vụ, Nà Sao là 1.407.500 đồng/hộ/vụ (gồm đạm 880.000 đồng, supe lân 467.500 đồng, thuốc BVTV 60.000 đồng).

Khảo sát kênh cung cấp thông tin giá cả nông sản của 78 hộ cho thấy sự thiếu hụt kênh truyền thông chính thống: 100% hộ nắm giá qua người buôn và chợ truyền thống; 87,3% qua hàng xóm; 61,5% qua họ hàng; và 0% hộ tiếp cận qua tivi, đài, báo chí, internet, cán bộ khuyến nông hay chính quyền xã. Nhu cầu mở rộng diện tích canh tác chỉ đạt 2,6% (2 hộ), nhu cầu thuê thêm lao động đạt 11,5% (9 hộ), trong khi nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất chiếm 29,5% (23 hộ).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các kết quả đạt được, chỉ rõ các điểm nghẽn về tính tự cấp tự túc và chất lượng đất; đưa ra khuyến nghị thực thi đối với UBND xã Đức Quang và các nông hộ trực tiếp sản xuất.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Quy mô thu hoạch và phân phối nông sản của mẫu khảo sát (78 hộ năm 2019): Tổng sản lượng thu được đạt 85.410 kg lúa, 103.350 kg ngô và 108.420 kg sắn. Bình quân mỗi hộ thu được 1.325 kg ngô và 1.390 kg sắn. Giá bán sản phẩm tại địa phương ở mức thấp: thóc đạt 12.000 đồng/kg, ngô đạt 5.500 đồng/kg và sắn đạt 5.000 đồng/kg, dẫn đến việc người dân chủ yếu sử dụng nông sản làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm tại chỗ thay vì bán thương phẩm.
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế biên trên 1 đồng chi phí trung gian:
    • Đối với cây lúa: 1 đồng chi phí trung gian tạo ra 3,51 đồng giá trị sản xuất (GO) và 2,51 đồng giá trị gia tăng (VA); 1 ngày công lao động tạo ra 2.000 đồng VA.
    • Đối với cây ngô: 1 đồng chi phí trung gian tạo ra 2,90 đồng GO và 1,90 đồng VA; 1 ngày công lao động tạo ra 1.500 đồng VA.
    • Đối với cây sắn: 1 đồng chi phí trung gian tạo ra 4,40 đồng GO và 3,40 đồng VA; 1 ngày công lao động tạo ra 1.000 đồng VA.
  • Xác định các rào cản cản trở phát triển: Chỉ 10% lao động nông nghiệp đã qua đào tạo; chất lượng đất suy giảm do lạm dụng phân vô cơ và thuốc BVTV hóa học; địa hình ruộng bậc thang hẹp làm vô hiệu hóa máy gặt đập liên hợp; thủ tục tiếp cận vốn vay ngân hàng còn rào cản về hạn mức và tài sản thế chấp.

Giải pháp tác giả đề xuất (giai đoạn 2021 - 2025)

  1. Đào tạo và nâng cao chất lượng lao động: Mở các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác "cầm tay chỉ việc" ngay tại đồng ruộng, chuyển giao quy trình phòng trừ dịch hại tổng hợp.
  2. Bảo vệ và cải tạo tài nguyên đất: Hạn chế hóa chất bảo vệ thực vật, hướng dẫn ủ phân hữu cơ vi sinh, khuyến khích các hộ liên kết dồn đổi ruộng đất tạo vùng sản xuất tập trung.
  3. Đổi mới chính sách tài chính - tín dụng nông thôn: Ngân hàng NN&PTNT và Ngân hàng Chính sách Xã hội mở rộng hạn mức cho vay không cần thế chấp tài sản đối với hộ nghèo thông qua Hội Phụ nữ, Hội Nông dân; kiểm soát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích.
  4. Thúc đẩy cơ giới hóa nông nghiệp: Liên kết với các doanh nghiệp cung ứng máy móc nông nghiệp áp dụng hình thức bán trả chậm, hỗ trợ dịch vụ bảo hành sửa chữa lưu động tại xã.
  5. Phát triển hệ thống tiêu thụ và dịch vụ thông tin thị trường: Hình thành các tổ hợp tác liên kết với doanh nghiệp bao tiêu nông sản đầu ra, xây dựng bảng tin thị trường nông sản định kỳ tại trụ sở xã và chợ phiên.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp bộ số liệu thực chứng chi tiết về chi phí đầu vào, cơ cấu thu nhập và tập quán tiêu thụ nông sản của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại một xã vùng cao biên giới đặc biệt khó khăn, làm rõ khoảng trống thông tin thị trường giữa nông hộ và hệ thống khuyến nông cơ sở.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi điều tra giới hạn ở 78 hộ thuộc 3 xóm của một xã miền núi trong thời gian 5 tháng; phương pháp xử lý số liệu dừng lại ở thống kê mô tả và tính toán chi phí - doanh thu trên Excel, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng phân tích hồi quy tương quan đa biến hoặc hàm sản xuất Cobb-Douglas.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu trên toàn địa bàn huyện Hạ Lang; đánh giá chuyên sâu chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng sản phẩm ngô, sắn sang thị trường tiểu ngạch biên giới; định lượng tác động của biến đổi khí hậu đến lịch thời vụ vùng cao.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý tài nguyên đất đai; cán bộ khuyến nông và nhà quản lý cấp cơ sở tại các huyện miền núi.
  • Hạng mục tham khảo giá trị: Quy trình thiết kế mẫu điều tra hệ thống dựa trên công thức Slovin trong điều kiện địa bàn vùng cao; phương pháp phân tích cơ cấu chi phí vật tư phân bón cho cây lúa, ngô, sắn; và các giải pháp tín dụng vi mô gắn với đoàn thể xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Cỡ mẫu khảo sát 78 hộ được tính toán và phân bổ như thế nào?
Tác giả áp dụng công thức Slovin (1960) với độ tin cậy 90% và sai số cho phép $e = 10%$ để xác định cỡ mẫu đại diện là 78 hộ. Số mẫu được chia đều cho 3 xóm đại diện theo phương pháp chọn mẫu hệ thống: xóm Coỏng Hoài (26 hộ), xóm Đoàn Kết (26 hộ), và xóm Nà Sao (26 hộ).

2. Người dân xã Đức Quang tiếp cận thông tin giá cả nông sản qua những kênh nào?
Theo kết quả khảo sát 78 hộ, 100% hộ dân nhận thông tin giá cả qua người buôn và chợ truyền thống; 87,3% qua hàng xóm; 61,5% qua họ hàng. Hoàn toàn không có hộ nào (0%) tiếp cận thông tin giá cả qua đài truyền hình, báo chí, internet, cán bộ khuyến nông hay chính quyền địa phương.

3. Chi phí đầu tư sản xuất bình quân một vụ lúa tại xóm Coỏng Hoài gồm những khoản nào?
Tổng chi phí trồng lúa bình quân một vụ tại xóm Coỏng Hoài là 4.445.000 đồng/hộ, bao gồm: 15 kg thóc giống (1.125.000 đồng), 190 kg phân supe lân (1.430.000 đồng), 8 lọ thuốc bảo vệ thực vật (200.000 đồng), phân chuồng tự cung tự cấp và các hộ không phát sinh chi phí thuê lao động ngoài.

4. Xu hướng biến động đàn gia súc tại xã Đức Quang giai đoạn 2017 - 2019 diễn ra ra sao?
Đàn trâu giảm từ 1.068 con (2017) xuống 923 con (2019) do máy móc thay thế sức kéo; đàn bò giảm từ 712 con xuống 634 con; đàn ngựa giảm từ 178 con xuống 94 con do chuyển sang phương tiện xe máy; đàn lợn giảm mạnh do dịch tả lợn châu Phi; trong khi đàn gia cầm tăng lên 6.245 con nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phùng Thị Bay đã phản ánh toàn diện thực trạng sản xuất cây hàng năm tại xã Đức Quang, huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2017 - 2020. Nghiên cứu chỉ ra rằng dù sở hữu tiềm năng về lao động và đất đai, nền sản xuất của địa phương vẫn mang tính tự cung tự cấp, quy mô nhỏ lẻ, thiếu thông tin thị trường và chịu nhiều tổn thương do thiên tai, dịch bệnh. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất tập trung vào nâng cao năng lực thâm canh, cải tạo đất, mở rộng tín dụng ưu đãi và thiết lập liên kết tiêu thụ, mang lại cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch phát triển nông thôn tại địa bàn nghiên cứu.