Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU 1.1- TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN 1.1- Lịch sử hình thành và phát triển của quyền chọn chứng khoán Những giao dịch đầu tiên của quyền chọn mua và quyền chọn bán trên thế giới đã xuất hiện từ đầu thế kỷ 18 ở Châu Âu. Vào đầu những năm 1900, một nhóm Công ty đã thành lập “Hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn”. Mục đích của hiệp hội này là cung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và người bán lại với nhau. Các nhà kinh doanh không gặp nhau trên thị trường, nhà đầu tư muốn mua quyền chọn liên hệ với một Công ty thành viên, công ty này sẽ cố gắng tìm người bán quyền chọn từ những khách hàng của họ hoặc từ những Công ty thành viên khác, nếu không có người bán, Công ty sẽ tự phát hành quyền chọn với giá cả thích hợp.
Như vậy, hoạt động của hiệp hội những nhà môi giới và kinh doanh quyền chọn có ba điểm yếu: (i) Không có thị trường thứ cấp, người mua quyền chọn không có quyền bán cho bên khác trước ngày đáo hạn (ii) Không có kỹ thuật nào đảm bảo rằng người bán quyền chọn sẽ thực hiện hợp đồng; (iii) Chi phí giao dịch tương đối cao. Năm 1973, đã có một thay đổi mang tính cách mạng trong thị trường quyền chọn. Sở giao dịch Chicago Board of Trade (CBOT) – Sở giao dịch lâu đời nhất và lớn nhất về các hợp đồng giao sau hàng hóa, đã tổ chức một sở giao dịch dành riêng cho giao dịch quyền chọn cổ phiếu. Sở giao dịch này được đặt tên là Chicago Board of Options Exchange (CBOE), mở cửa giao dịch quyền chọn mua vào ngày 26/04/1973 và giao dịch các hợp đồng quyền chọn bán trong tháng 06/1977.
Vào thời kỳ đó chủ yếu trao đổi các cổ phiếu đơn lẻ. 123doc 7 CBOE đã tạo ra một thị trường trung tâm cho các hợp đồng quyền chọn. Bằng cách tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn và điều kiện của hợp đồng quyền chọn, nó đã làm tăng tính thanh khoản cho thị trường. Nói cách khác, một nhà đầu tư đã mua hoặc bán quyền chọn trước đó có thể quay trở lại thị trường trước khi hợp đồng đáo hạn và bán hoặc mua quyền chọn, và như vậy đã bù trừ vị thế ban đầu.
Điểm mới và quan trọng nhất đó là CBOE đã bổ sung một trung tâm thanh toán đảm bảo cho người mua rằng người bán sẽ thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng. Vì vậy, không giống như trên thị trường phi tập trung, người mua quyền chọn không còn phải lo lắng về rủi ro tín dụng của người bán. Điều này khiến quyền chọn trở nên hấp dẫn đối với công chúng. Tiếp theo đó, TTCK Mỹ (AMEX) và TTCK Philadelphia (PHLX) bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn vào năm 1975, TTCK Pacific (PSE) thực hiện giao dịch vào năm 1976.
Trong thập niên 80 của thế kỷ trước, thị trường quyền chọn ngoại tệ, chỉ số chứng khoán, và hợp đồng giao sau, cũng chính là hình thức giao dịch quyền chọn được dùng phổ biến một thời lúc bấy giờ, đã phát triển ở Mỹ. TTCK Philadelphia là nơi giao dịch quyền chọn ngoại tệ đầu tiên. CBOE trao đổi chỉ số chứng khoán của S&P 100 và S&P 500… Hiện nay thị trường quyền chọn tồn tại khắp nơi trên thế giới. Các loại quyền chọn được trao đổi phổ biến nhất hiện nay trên thế giới là quyền chọn về chứng khoán, chỉ số chứng khoán, ngoại tệ.2- Khái niệm và đặc điểm của quyền chọn Khái niệm quyền chọn Quyền chọn là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó người mua quyền không nhất thiết phải thực hiện quyền đó, để mua hoặc bán một tài sản cơ sở nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.
Người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn. 123doc 8 Đặc điểm của quyền chọn: - Tính phái sinh: Quyền chọn là một trong những công cụ tài chính phái sinh, bởi vì nó được hình thành trên cơ sở một loại tài sản khác như các loại hàng hóa, chứng khoán. Do đó, các loại tài sản này được gọi là tài sản cơ sở. - Tính lựa chọn: Quyền chọn là công cụ tài chính phái sinh cung cấp quyền cho người nắm giữ quyền chọn chứ không phải nghĩa vụ phải thực hiện việc mua hay bán.
Nội dung trong các hợp đồng quyền chọn là sự thỏa thuận về quyền chọn trong tương lai giữa các bên, trên cơ sở đó hình thành mức phí mua quyền. - Tính kỳ hạn: Quyền chọn có ngày ký kết và ngày hết hiệu lực, khoảng thời gian từ ngày ký kết đến hết ngày hết hiệu lực là thời gian hiệu lực của quyền chọn. - Tính thanh khoản: Các hợp đồng quyền chọn có thể được giao dịch, mua bán cả trên thị trường sơ cấp cũng như thị trường thứ cấp. Do đó, nó tạo cho sản phẩm này tính thanh khoản tương đối cao.3- Phân loại quyền chọn 1.1- Phân loại theo quyền của người mua - Quyền chọn mua (Call option): là hợp đồng quyền chọn được ký kết tại thời điểm hiện tại, trong đó bên mua có quyền thực hiện quyền được mua (hoặc không mua) một loại hàng hóa cơ sở theo một mức giá đã được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng.
Còn bên bán có nghĩa vụ phải thực hiện việc bán loại hàng hóa cơ sở này khi bên mua thực hiện quyền. - Quyền chọn bán (Put option): là hợp đồng quyền chọn được ký kết tại thời điểm hiện tại, trong đó bên mua có quyền thực hiện quyền được bán (hoặc không bán) một loại hàng hóa cơ sở theo một mức giá đã được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng. Còn bên bán có nghĩa vụ phải thực hiện việc mua loại hàng hóa cơ sở này khi bên mua thực hiện quyền.2- Phân loại theo tập quán kinh doanh - Quyền chọn kiểu Mỹ (American Style Option): là quyền chọn cho phép người nắm giữ quyền chọn đưa ra yêu cầu thực hiện quyền chọn vào bất cứ thời điểm nào 123doc 9 trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, kể từ khi ký kết hợp đồng cho đến khi đáo hạn hợp đồng, kể cả vào ngày đáo hạn. Việc thanh toán sẽ thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ quyền chọn xác nhận.
- Quyền chọn kiểu châu Âu (European Style Option): là quyền chọn chỉ cho phép người nắm giữ quyền chọn thực hiện quyền chọn vào ngày đáo hạn. Việc thanh toán thực sự xảy ra trong vòng hai ngày làm việc sau khi việc thực hiện quyền chọn được người nắm giữ quyền chọn xác nhận vào ngày đáo hạn. Ngoài các cách phân loại trên, quyền chọn cũng được phân loại theo tài sản cơ sở gồm: quyền chọn chỉ số chứng khoán, quyền chọn cổ phiếu, quyền chọn trái phiếu, quyền chọn lãi suất, quyền chọn ngoại tệ, quyền chọn trên hợp đồng giao sau.4- Các trạng thái quyền chọn Trong thời hạn hợp đồng hiệu lực, người mua thực hiện hợp đồng hay không còn phụ thuộc vào sự biến động của giá cả hiện hành trên thị trường vào thời điểm đó so với mức giá thực hiện (strike/exercise price) đã quy định. Cụ thể, xét từ vị thế người mua quyền chọn hợp đồng quyền chọn có ba trạng thái: - Ngang giá quyền chọn (At the money-ATM): Là trạng thái khi người nắm giữ quyền chọn, nếu bỏ qua phí quyền chọn, thực hiện quyền chọn mà không phát sinh khoản lãi hay lỗ nào.
Khi đó: Giá thị trường = Giá thực hiện. Quyền chọn ở trạng thái ATM gọi là quyền chọn ở điểm hoà vốn. - Được giá quyền chọn (In the money-ITM): Là trạng thái khi người nắm giữ quyền chọn, nếu bỏ qua phí quyền chọn, thực hiện quyền chọn mà có lãi. Khi đó: Giá thị trường > Giá thực hiện (đối với hợp đồng quyền chọn mua) và Giá thị trường < Giá thực hiện (đối với hợp đồng quyền chọn bán).
Quyền chọn ở trạng thái ITM gọi là quyền chọn ở vùng hái ra tiền. - Giảm giá quyền chọn (Out of the money-OTM): Là trạng thái khi người nắm giữ quyền chọn, nếu bỏ qua phí quyền chọn, thực hiện hợp đồng quyền chọn sẽ chịu lỗ. Lúc này: 123doc 10 Giá thị trường < Giá thực hiện (đối với hợp đồng quyền chọn mua); và Giá thị trường > Giá thực hiện (đối với hợp đồng quyền chọn bán). Quyền chọn ở trạng thái OTM gọi là quyền chọn ở vùng mất tiền.5- Mục đích, quyền lợi, nghĩa vụ của người mua và người bán quyền chọn 1.1-Mục đích của người mua, người bán quyền chọn Với sự linh hoạt và với những đặc tính ưu việt của quyền chọn, các nhà đầu tư đã ứng dụng công cụ này với những mục đích khác nhau.
Mục đích của người mua quyền: Nhà đầu tư mua quyền chọn nhằm những mục đích cơ bản như bảo hộ, đầu cơ, hoặc trì hoãn một quyết định. • Bảo hộ: TTCK luôn biến động và không ai có thể chắc chắn được những động thái của nó trong tương lai. Vì thế quyền chọn được sử dụng như là công cụ bảo hộ vị thế hiện có của nhà đầu tư bằng việc cố định giá mua bán trên hợp đồng. • Đầu cơ: Nhà đầu tư cũng có thể sử dụng quyền chọn để đầu cơ với số tiền bỏ ra ban đầu thấp hơn nhiều so với việc mua bán trực tiếp trên thị trường và có thể tìm được mức tỷ suất lợi nhuận rất cao.
• Trì hoãn một quyết định: Quyền chọn cũng được sử dụng khi một nhà đầu tư muốn mua hay bán cổ phiếu nhưng chưa muốn thực hiện ý định đó ngay mà chờ đợi diễn biến tiếp theo của thị trường. Trong trường hợp này quyền chọn có thể giúp nhà đầu tư hạn chế rủi ro biến động giá và có thể trì hoãn quyết định mua bán của mình trong thời gian hiệu lực của hợp đồng đã mua. Mục đích của người bán quyền Khi bán quyền chọn thì chủ thể bán quyền chỉ có thể kiếm được lợi nhuận hữu hạn trong khi có thể bị lỗ vô hạn. Thông thường người bán quyền thường nhằm đến những mục đích bảo hiểm vị thế hoặc/và tăng tỷ suất sinh lời.
• Bảo hộ vị thế: Giống như người mua quyền chọn, người bán quyền chọn cũng có nhu cầu cố định giá mua hay giá bán một cổ phiếu nhất định vì lo sợ những 123doc 11 diễn biến bất lợi của thị trường. Việc bán quyền chọn sẽ giúp cho nhà đầu tư có thể tính toán được phần thu nhập (trường hợp bán quyền chọn mua) hay chi phí mua quyền chọn (trong trường hợp bán quyền chọn bán) trong tương lai.