CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC EU 1. Giới thiệu về thương mại hàng hóa quốc tế 1. Khái niệm thương mại hàng hóa quốc tế Hiện nay, quan hệ thương mại quốc tế là một khái niệm phổ biến và được định nghĩa nhiều lần trong nhiều công trình của thế giới và Việt Nam. Theo định nghĩa trong giáo trình Quan hệ kinh tế quốc tế, quan hệ thương mại quốc tế là “mối quan hệ kinh tế lẫn nhau giữa hai hoặc nhiều nước, là tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước” (Võ Thanh Thu, 2008, tr.
Nếu đứng dưới góc nhìn của khái niệm trên thì quan hệ thương mại quốc tế là một phạm trù rộng lớn và bao gồm nhiều lĩnh vực như: hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, lao động, khoa học-công nghệ… Bởi vậy mà chúng ta cần phân tích thêm khái niệm Quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế. Khái niệm “hàng hóa” cũng được nhấn mạnh và phân tích ở nhiều lý thuyết kinh tế. Hàng hóa theo định nghĩa của kinh tế học Karl Max là “sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và dùng để trao đổi với nhau” (Chu Văn Cấp, 2000, tr. Từ đó, ta có thể rút ra quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế là một hình thức của quan hệ thương mại quốc tế, trong đó diễn ra sự trao đổi và mua bán hàng hóa hữu hình giữa các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế.
Quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế nắm một vai trò quan trọng trong việc phát triển quan hệ thương mại quốc tế nói riêng và phát triển kinh tế nói chung của một quốc gia. Các hình thức của thương mại hàng hóa quốc tế Thương mại hàng hoá quốc tế có thể diễn ra theo hình thức chính ngạch (hàng hóa có đủ giấy phép và lưu thông chính thức qua các cửa khẩu quốc tế, phải chịu thuế và phải làm thủ tục hải quan) hoặc hình thức tiểu ngạch (trao đổi hàng hóa của người dân gần biên giới của hai nước có chung đường biên giới, thuế suất thấp hơn và thủ tục hải 7 quan cũng đơn giản hơn chính ngạch, tuy nhiên có giới hạn về khối lượng hàng hóa). Có rất nhiều phương thức gia dịch, trao đổi, buôn bán hàng hóa quốc tế. Xuất nhập khẩu trực tiếp “là hình thức xuất khẩu mà trong đó các doanh nghiệp xuất nhập khẩu quốc tế trực tiếp bán hoặc mua sản phẩm thông qua các bộ phận xuất nhập khẩu của mình” (Đàm Quang Vinh, 2012, tr.
Lợi ích của xuất nhập khẩu trực tiếp là có thể kiểm soát được sự thay đổi nhu cầu thị hiếu của thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, bên cạnh thu được lợi nhuận lớn do không phải chia sẻ lợi ích thì hình thức này cũng có một số nhược điểm nhất định đó là: rủi ro cao, đầu tư về nguồn lực lớn, tốc độ chu chuyển vốn chậm. Ủy thác xuất nhập khẩu “là hình thức trong đó đơn vị được cấp giấy phép xuất nhập khẩu không có điều kiện đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện hợp đồng mua bán mà phải ủy thác cho đơn vị khác có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu tiến hành hộ. Đơn vị giao ủy thác phải trả một khoản hoa hồng cho đơn vị nhận ủy thác theo một tỷ lệ nhất định đã được thỏa thuận trong một hợp đồng gọi là phí ủy thác” (Đàm Quang Vinh, 2012, tr.
Hình thức xuất nhập khẩu này đem lại cho công ty những lợi ích đó là không cần đầu tư lớn về nguồn lực, rủi ro thấp, tốc độ chu chuyển vốn nhanh. Tuy nhiên, hình thức này cũng có những hạn chế là doanh nghiệp giao ủy thác không kiểm soát được sản phẩm, phân phối, giá cả, ở thị trường nước ngoài và do phải trả chi phí ủy thác nên hiệu quả xuất nhập khẩu cũng không cao bằng xuất nhập khẩu trực tiếp. Hoạt động xuất nhập khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu “là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng hóa giao đi có giá trị bằng lượng hàng hóa nhập về. Ở đây mục đích xuất khẩu thông không phải nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương” (Đàm Quang Vinh, 2012, tr.
Hoạt đông xuất nhập khẩu theo hình thức gia công quốc tế là hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên(gọi là bên nhận gia công ) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra 8 thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và nhận thù lao(gọi là phí gia công). Như vậy trong hoạt động gia công quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất. Xuất nhập khẩu theo Nghị định thư “là hình thức xuất nhập khẩu mà chính phủ giữa các bên đàm phán ký kết với nhau những văn bản, hiệp định nghị định về việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Và việc đàm phán ký kết này vừa mang tính chính trị vừa mang tính kinh tế.
Trên cơ sở những nội dung đã ký kết, Nhà nước xây dựng kế hoạch và giao cho một số doanh nghiệp thực hiện” (Phạm Duy Liên, 2012, tr. Tạm nhập tái xuất là việc xuất khẩu trở lại nước ngoài những hàng hóa trước đây đã nhập khẩu về nước nhưng chưa hề qua gia công chế biến, cải tiến lắp rắp. Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng hóa của một nước (nước xuất khẩu) bán cho nước khác (nước nhập khẩu) mà không làm thủ tục xuất nhập khẩu 1. Vai trò của thương mại hàng hóa quốc tế 1.
Đối với nền kinh tế quốc dân Thương mại hàng hóa quốc tế tạo động lực phát triển nền kinh tế quốc dân Thu nhập của các quốc gia hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa. Nếu giải quyết tốt vấn đề và mối quan hệ giữa xuất khẩu và nhập khẩu sẽ tạo động lực to lớn giúp thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thông qua việc gia tăng vốn đầu tư nước ngoài cùng cơ chế chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến, thương mại hàng hóa quốc tế đã tạo nên một động lực mạnh mẽ giúp nền kinh tế quốc dân có cơ hội lớn phát triển. Quốc gia được nhận một nguồn lớn từ bên ngoài bên cạnh năng lực nội tại giúp quốc gia rút ngắn thời gian nghiên cứu cũng như khoảng cách công nghệ so với các nước phát triển.
Thương mại hàng hóa quốc tế giúp cải thiện cán cân thanh toán quốc tế Các nước đang phát triển cần một lượng lớn ngoại tệ để có thể chi tiêu nhập khẩu các máy móc hay công nghệ hiện đại. Trong đó thực tế xuất khẩu là nguồn thu ngoại tệ chính của các quốc gia này. Cùng với việc thi hành các chính về ngoại thương và xuất 9 nhập khẩu thích hợp, các quốc gia đang và kém phát triển có thể duy trì cán cân thanh toán quốc tế ổn định theo mục tiêu mong muốn của mình. Thương mại hàng hóa quốc tế góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Xuất khẩu khiến thay đổi sản xuất trong nước trong nước theo xu các mặt hàng các hàng đang xuất khẩu chủ lực.
Nhập khẩu chính là điều kiện cải thiện nguyên vật liệu là đầu vào của quy trình sản xuất., cũng như tăng năng xuất nhờ cải tiến công nghệ. Thương mại hàng hóa quốc tế là đóng một vai trò rất quan trọng trong công cuôc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, giúp tăng tỷ trọng khu vực Công nghiệp và Dịch vụ và phát triển nền nông nghiệp hiện đại gắn liền với máy móc. Với vai trò như vậy, thương mại hàng hóa quốc tế chính là con đường để Đảng và Nhà nước ta thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đưa nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ, nâng tầm vị thế của quốc gia trên trường quốc tế. Đối với Doanh nghiệp Tham gia thương mại hàng hóa quốc tế giúp cho Doanh nghiệp đạt được rất nhiều lợi ích.
Cụ thể như: Hàng hóa dư thừa trong sản xuất của Doanh nghiệp có thể được tận dụng nhờ hoạt động xuất khẩu sang nước khác. Ngoài ra thương mại hàng hóa quốc tế giúp Doanh nghiệp mở rộng thị trường của mình với các thị hiếu đa dạng cũng như chính sách ưu đãi hấp dẫn của nước ngoài. Nhập khẩu giúp bổ sung nguyên vật liệu đầu vào của Doanh nghiệp và tăng hiệu quả của quá trình sản xuất nhờ vào công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Các thị trường khác nhau có vòng đời khác nhau giúp Doanh nghiệp có nhiều lựa chọn khác nhau để duy trì hay tái lập vòng đời sản phẩm.
Ngoài ra đa dạng hóa thị trường giúp cho Doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro cho Doanh nghiệp mình. Đối với người tiêu dùng Thương mại hàng hóa quốc tế phát triển giúp gia tăng số lượng hàng hóa, đa dạng các mặt hàng thị trường tiêu dùng trong nước. Các hiệp định thương mại song và đa phương tạo điều kiện hấp dẫn các Doanh nghiệp đưa hàng hóa ra nước ngoài, làm cho sự lựa chọn hàng hóa dành cho người tiêu dùng ngày càng phong phú. Sự cạnh tranh mãnh liệt từ hàng hóa của các Doanh nghiệp nước ngoài khiến chất lượng hàng hóa ngày càng được cải thiện hơn.
Các chỉ tiêu đánh giá quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế 1. Kim ngạch xuất nhập khẩu và các chỉ số liên quan đến kim ngạch xuất nhập khẩu 1. Kim ngạch xuất nhập khẩu Kim ngạch xuất nhập khẩu là giá trị về mặt tiền tệ của lượng hàng hóa và dịch vụ xuất nhập khẩu sang các thị trường hay các quốc gia khác trong một khoảng thời gian nhất định. Giá trị cũng như sự tăng giảm của kim ngạch xuất nhập khẩu có thể giúp đánh giá được mức độ tham gia vào thương mại toàn cầu của Quốc gia cũng như dự đoán tình hình kinh tế của Quốc gia trong giai đoạn cụ thể đang xem xét.
Lợi thế thương mại đối tác (PCA) Chỉ số lợi thể thương mại đối tảc (PCA) dùng để xác định lợi thể thương mại của một quốc gia vởi từng đối tác trên diện tổng thể.