Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm về nông nghiệp Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 3 – 2003): “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là ngành sản xuất lớn bao gồm nhiều chuyên ngành trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản” (Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995).
“Lâm nghiệp là ngành kinh tế quốc dân có nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ và sử dụng rừng để phát huy lợi ích kinh tế, công ích xã hội và tác dụng bảo vệ môi trường trên cơ sở những phương thức sản xuất nhất định” (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2008). Ngư nghiệp là một trong các lĩnh vực của nông nghiệp, “là ngành kinh tế có chức năng và nhiệm vụ nuôi trồng và khai thác các loài thủy hải sản, chủ yếu là cá ở các ao hồ, đầm ruộng nước, sông ngòi trong nội địa và ở biển” (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2008). Hiện nay, nông nghiệp được bổ sung những nét mới và thực tế hơn. Nông nghiệp là một hoạt động kinh tế, cơ sở cho sự phát triển công nghiệp và CNH, ĐTH (cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, đất, lao động, thị trường, tiền vốn cho công nghiệp…), đảm bảo an ninh lương thực, là một sinh kế có vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo, là nơi nuôi dưỡng và cung cấp các nguồn tài nguyên và dịch vụ môi trường (Lê Mỹ Dung, 2017).
Trong nền kinh tế ngày càng hiện đại và yêu cầu của xã hội với nông nghiệp ngày càng cao thì chức năng, nhiệm vụ của ngành nông nghiệp ngày càng phức tạp hơn. Do vậy, theo quan điểm của tác giả: Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, gồm tổ hợp các ngành gắn liền với quá trình sinh học gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp. 11 Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng, vì vậy phát triển nông nghiệp là một bộ phận của phát triển kinh tế. Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế, phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005).
Nội dung của phát triển kinh tế gồm 3 khía cạnh, một là tăng trưởng kinh tế, hai là chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT), ba là các yếu tố xã hội. Phát triển nông nghiệp có thể hiểu là sự thay đổi về quy mô giá trị sản xuất (tăng), sự hoàn thiện về cơ cấu và sự nâng cao về hiệu quả KT - XH của sản xuất nông nghiệp. Cơ cấu nông nghiệp (CCNN) là “tổng thể các mối quan hệ kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, có quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau theo những tỉ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan về mặt chất. Các bộ phận kinh tế tác động qua lại lẫn nhau trong không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện KT – XH nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao” (Nguyễn Đình Giao, 1994).
Cơ cấu nông nghiệp bao gồm 3 bộ phận chủ yếu: CCNN theo ngành, CCNN theo lãnh thổ, CCNN theo thành phần kinh tế. - CCNN theo ngành phản ánh số lượng, vị trí, tỉ trọng các bộ phận cấu thành nên nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản và theo nghĩa hẹp bao gồm nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp); lâm nghiệp (khai thác, trồng rừng và dịch vụ lâm nghiệp); thủy sản (khai thác, nuôi trồng và dịch vụ thủy sản). - CCNN theo lãnh thổ là sự sắp xếp và phối hợp các đối tượng nông nghiệp trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng, kết hợp với nhu cầu thị trường trên một lãnh thổ cụ thể nhằm sử dụng hợp lí nhất các tiềm năng tự nhiên, lao động, vị trí địa lí, cơ sở vật chất kĩ thuật. - CCNN theo thành phần kinh tế phản ánh mối quan hệ về số lượng, vị trí, tỉ trọng của các thành phần kinh tế tạo nên kinh tế nông nghiệp.
CCNN được hình thành dựa trên cơ sở là chế độ tư hữu tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế nhà nước, 12 kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (Nguyễn Đình Giao, 1994). Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp: “Quá trình chuyển dịch CCNN là quá trình thay đổi (tăng hoặc giảm) về quy mô, giá trị của các chuyên ngành sản xuất thuộc ngành nông nghiệp theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu thị trường, đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của từng chuyên ngành, tạo ra cơ cấu ngành nông nghiệp mang tính ổn định cao hơn và phát triển bền vững hơn trong kinh tế thị trường và hội nhập” (Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ, 2014). Tái cơ cấu nông nghiệp là quá trình tiếp tục phát triển nông nghiệp gắn với bố trí, sắp xếp lại các chuyên ngành sản xuất theo nguyên tắc sử dụng tối đa lợi thế so sánh và sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào để tạo ra hiệu quả kinh tế. Tái cơ cấu nông nghiệp góp phần làm cho ngành nông nghiệp có năng lực cạnh tranh cao hơn, bền vững hơn.
Quá trình phát triển gắn với thay đổi quy mô sản xuất của các chuyên ngành nhằm tạo ra các nông sản có chất lượng và giá trị cao, phù hợp với nhu cầu của thị trường, sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước, nâng cao thu nhập cho nông dân và đảm bảo tính bền vững (Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TƯ, 2014). Sản xuất nông nghiệp hàng hóa (SXNNHH) là một bộ phận của kinh tế hàng hóa, là kiểu tổ chức KT-XH sản xuất ra nông sản không phải để tự mình tiêu dùng mà để trao đổi, mua bán trên thị trường, vừa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng xã hội, vừa có lợi nhuận cho người sản xuất ra nó để tái sản xuất mở rộng và hiện đại hóa nền nông nghiệp (Trần Xuân Châu, 2003). Tùy vào hình thức tổ chức, mục đích sản xuất của người nông dân có thể phân SXNNHH thành 2 loại: SXNNHH giản đơn: đây là hình thức sản xuất ở trình độ thấp, được thể hiện trước hết ở mục đích sản xuất của người sản xuất chủ yếu là để tiêu dùng, việc tạo ra sản phẩm nông nghiệp được gọi là nông sản hàng hóa trong hình thức này chỉ là ngẫu nhiên không phải mục đích của người sản xuất. Các nông sản hàng hóa có được là phận thừa ra ngoài nhu cầu tiêu dùng cho bản thân người sản xuất.
Ngoài ra 13 trong SSNNHH giản đơn trình độ của lực lượng sản xuất xã hội còn lạc hậu, phân công lao động xã hội chưa phát triển. SXNNHH giản đơn được tiến hành bởi những nông dân sản xuất nhỏ dựa trên chế độ sở hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và chủ yếu dựa vào sức lao động của bản thân nông dân là chính. SSNNHH lớn: điều khác biệt cơ bản giữa SSNNHH giản đơn và SXNNHH lớn trước hết thể hiện ở mục đích của người sản xuất. Trong SXNNHH lớn, ngay từ trước khi tiến hành sản xuất, mục đích tạo ra nông sản để bán được khẳng định, đó là quá trình tất nhiên, không phải là sự kiện ngẫu nhiên.
Sự khác nhau giữa hai hình thức sản xuất còn được thể hiện ở trình độ phân công lao động và trình độ kỹ thuật cao trong SXNNHH lớn. Vai trò - Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm đảm bảo an ninh lương thực cho dân cư Vấn đề an ninh lương thực là vấn đề cấp thiết ở một số quốc gia, đặc biệt là các quốc gia thuộc các nước kém phát triển. Nông nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao mức sống dân cư, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng như sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Vấn đề lương thực có ý nghĩa vô cùng to lớn trong chiến lược phát triển nông nghiệp và phân công lại lao động xã hội.
Trong bối cảnh dân số thế giới ngày càng tăng, diện tích đất ngày càng thu hẹp, dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm, vấn đề an ninh lương thực trở thành thách thức chung của toàn nhân loại. Nhu cầu sử dụng lương thực, thực phẩm liên tục tăng lên đòi hỏi quá trình sản xuất phải không ngừng phát triển. Chính vì vậy, phát triển nông nghiệp nhằm tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm cho người dân, góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu của người dân. - Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp là cơ sở cho việc phát triển các ngành kinh tế khác Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến.
Tại các nước đang phát triển, nguyên liệu từ nông nghiệp để phát triển công nghiệp chế biến và nhiều ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Thông qua 14 công nghiệp chế biến, giá trị nông sản được tăng lên và đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Đời sống dân cư nông thôn ngày càng đa dạng, nông nghiệp và nông thôn trở thành thị trường tiêu thụ của các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ. - Nông nghiệp cung cấp khối lượng hàng hóa lớn để xuất khẩu thu ngoại tệ cho đất nước Đối với các nước đang phát triển việc xuất khẩu nông sản là thế mạnh và là nguồn thu ngoại tệ lớn dựa trên hiệu quả khai thác lợi thế về vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên.
Nguồn thu từ việc xuất khẩu nông sản tạo nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, nhập khẩu máy móc thiết bị, công nghệ thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. - Nông nghiệp tạo việc làm và góp phần thúc đẩy chuyển dịch lao động Nông nghiệp tạo việc làm cho phần lớn lao động trong khu vực dân cư nông thôn.