Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững Chương 2: Thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình Chương 3: Quan điểm, giải pháp tiếp tục phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh Thái Bình 5 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 1. Khái luận chung về phát triển nông nghiệp bền vững 1. Những khái niệm cơ bản 1. Phát triển bền vững Phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, khi cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã bùng nổ, chất lượng cuộc sống của xã hội loài người đã có bước tiến rõ rệt do khoa học công nghệ và năng suất lao động mang lại.
Của cải được nhân loại tạo ra ngày càng nhiều và phong phú về chủng loại đã phần nào thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, đã đưa đến sự phát triên nhanh của nền văn minh nhân loại. Song cũng chính từ sự phát triển ấy đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càng nổi cộm như tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một cách quá mức về của cải, tài nguyên, năng lượng, thiên tai, bão, lũ, ô nhiễm và sự cố môi trường ngày càng gia tăng đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, gây trở ngại đối với sự phát triển kinh tế và làm giảm sút chất lượng cuộc sống của con người. Đứng trước áp lực của thực tế khắc nghiệt, con người không còn cách lựa chọn nào khác là phải xem xét lại những hành vi ứng xử của minh với thiên nhiên, phương sách phát triển KT - XH và tiến trình phát triển của mình. Cách lựa chọn duy nhất đó là con đường phát triển có sự kết hợp cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường; đó chính là con đường đảm bảo tái sản xuất xã hội bền vững, hay nói cách khác đó chính là sự phát triển bền vững.
Phát triển bền vững, cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau, sau đây là một số quan niệm bàn về phát triển bền vững. Ủy ban quốc tế về phát triển và môi trường (1987) đã đưa ra định nghĩa: “Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi, trong đó việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật và sự 6 z thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người”. Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de Jenerio (Braxin) năm 1992 đã đưa ra khái niệm vắn tắt về phát triển bền vững và được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế đó là: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhanh đáp ứng những yêu cầu hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về PTBV tổ chức ở Johannesburg (cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã bổ sung và hoàn chỉnh khái niệm về phát triển bền vững: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển gồm: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu và đời sống con người hiện tại, nhưng không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Như vậy, PTBV là sự phát triển trong mối liên hệ gắn kết chặt chẽ thực hiện ba nhóm mục tiêu lớn: Mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội, mục tiêu môi trường. Trong đó sự phát triển kinh tế là nguồn gốc, là động lực; sự phát triển xã hội là mục tiêu và sự phát triển môi trường là điều kiện của phát triển bền vững. Theo đó, PTBV gồm ba nội dung cơ bản đó là: Bền vững về kinh tế: Đòi hỏi phải kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học và công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch. Bền vững về xã hội: Là phải xây dựng một xã hội trong đó nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó giáo dục – đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải được chăm lo đầy đủ và toàn diện cho mọi đối tượng trong xã hội.
Bền vững về tài nguyên và môi trường: Là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo được phải sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng các dạng tài nguyên không tái tạo phải được sử dụng tiết 7 z kiệm và hợp lý nhất. Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên…) nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường sạch. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về PTBV đã được kết tinh và phản ánh đầy đủ nhất trong Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam: “Mục tiêu tổng quát của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa của con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”.
Từ những cơ sở lý luận nên trên, tác giả cho rằng: Phát triển bền vững có nội dung lớn và phong phú, không chỉ hàm nghĩa phát triển kinh tế bền vững mà còn bao hàm nội dung phát triển xã hội bền vững và gắn kết chặt chẽ với bảo vệ môi trường sinh thái. Trong mỗi nội dung có thành tố riêng nhưng chúng luôn thống nhất biện chứng và quan hệ hữu cơ với nhau tạo lên sự phát triển bền vững. Như vậy, việc quán triệt và nhận thức đúng đắn nội hàm của PTBV là phương pháp luận tốt khi thực hiện PTNNBV phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện nay. Phát triển nông nghiệp Nền nông nghiệp của mỗi quốc gia cũng đều phải trải qua giai đoạn phát triển từ thấp đến cao, gắn liền với sự tiến hóa của loài người và sự gia tăng dân số.
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, nền nông nghiệp chủ yếu là săn bắt, hái lượm. Khi loài người tích lũy được kinh nghiệm, công cụ sản xuất ra đời, nền nông nghiệp được phát triển sang trồng trọt và chăn nuôi theo hướng du canh hay du mục. Canh tác du canh, du cư gắn liền với nền canh tác đốt rẫy. Sau đó, do sức ép về dân số và đất đai, nông nghiệp du canh, du cư vẫn tồn tại đến ngày nay ở một số vùng do một số cộng đồng đồng bào dân tộc ít người thực hiện.
Từ nền nông nghiệp truyền thống sang nông 8 z nghiệp hiện đại, nông nghiệp tự cung và tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa là những xu hướng cơ bản của sự phát triển nông nghiệp trong một thế kỷ qua ở các nước. Thuật ngữ phát triển nông nghiệp được dùng nhiều trong đời sống kinh tế xã hội. Phát triển nông nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền nông nghiệp ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó và thường đạt ở trình độ cao hơn cả về số lượng và chất lượng. Nền nông nghiệp phát triển là một nền sản xuất vật chất không những có nhiều hơn về đầu ra (sản phẩm và dịch vụ) đa dạng hơn về tổ chức và thể chế, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của xã hội về nông nghiệp.
Như vậy, phát triển nông nghiệp là một quá trình không phải trong trạng thái tĩnh. Quá trình thay đổi của nền nông nghiệp chỉ sự tác động của quy luật thị trường, chính sách can thiệp vào nền nông nghiệp của chính phủ, nhận thức và ứng xử của người sản xuất và người tiêu dùng về các sản phẩm và dịch vụ tạo ra trong lĩnh vực công nghiệp. Nền nông nghiệp phát triển là kết quả của quá trình phát triển nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp bền vững Phát triển nông nghiệp bền vững là nội dung trọng yếu của chiến lược phá triển KT - XH của mọi quốc gia.
Phát triển nông nghiệp bền vững là tiền đề đảm bảo các mục tiêu phát triển KT - XH, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Tuy nhiên vào nửa cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, trong quá trình PTNN loài người đã phải đương đầu với những thách thức có tính toàn cầu và ở từng quốc gia với mức độ nghiêm trọng khác nhau như: Sự nghèo đói, sự suy giảm về tài nguyên thiên nhiên và môi trường, áp lực dân số, sử dụng quá mức các chất hóa học…Trước những thách thức nói trên, PTNNBV mới bắt đầu được quan tâm trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ XX với nhiều quan niệm khác nhau: Theo tổ chức lương thực và Nông nghiệp (FAO, 1992) định nghĩa: Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau. Sự phát triển của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài 9 z nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận về phương diện xã hội. Định nghĩa này đã đề cập đến những vấn đề cốt lõi của PTNNBV trên cả ba phương diện là sự phát triển hài hòa ba nhóm mục tiêu: Kinh tế, xã hội và môi trường đồng thời chỉ rõ cách thức thực hiện để hướng đến phát triển nông nghiệp bền vững.
Theo Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (TAC/CGIRC) định nghĩa: Nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên thiên nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên thiên nhiên [39, tr.