phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 4 chương : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển nhân lực kỹ sƣ An toàn thông tin. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng nhân lực kỹ sƣ An toàn thông tin ở Việt Nam. Chƣơng 4: Giải pháp phát triển nhân lực kỹ sƣ An toàn thông tin ở Việt Nam.
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC KỸ SƢ AN TOÀN THÔNG TIN 4 1. Tổng quan nghiên cứu Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, kinh tế trí thức và toàn cầu hoá; xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, môi trường kinh doanh và cạnh tranh ngày càng gay gắt. Yêu cầu và thách thức đặt ra đối với đối với các doanh nghiệp và các nhà quản lý ngày càng lớn khiến công tác đào tạo nâng cao năng lực, phát triển nguồn nhân lực ngày càng trở nên cấp thiết. Vấn đề nguồn nhân lực và định hướng phát triển nguồn nhân lực trong quản lý của các doanh nghiệp thời đại hội nhập kinh tế quốc tế luôn là đề tài thu hút nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực quan tâm.
Phát triển nguồn nhân lực phải bằng sức mạnh tổng hợp, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, cơ chế, chính sách, trong đó giáo dục – đào tạo có tầm quan trọng hàng đầu. Có khá nhiều công trình của các nhà khoa học, với cách tiếp cận và phạm vi khác nhau, nghiên cứu phương hướng, giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta. Các công trình này là tiền đề tiêu biểu cho các nghiên cứu của bao thế hệ học viên học hỏi, như: Công trình “Nghiên cứu con người và nguồn lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, (2001) của tác giả Phạm Minh Hạc có phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chiến lược con người với tư tưởng coi nhân tố con người, phát triển con người, nguồn lực con người có ý nghĩa quyết định đối với việc sáng tạo vật chất và tinh thần; trình bày mối quan hệ giữa giáo dục - đào tạo, sử dụng và tạo việc làm với phát triển nguồn nhân lực đất nước; từ đó xác định trách nhiệm quản lý của giáo dục - đào tạo đối với việc phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Cuốn sách “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước”(2010) của tác giả Nguyễn Văn Khánh (chủ biên) là tập hợp các bài tham luận tại hội thảo khoa học có cùng chủ đề.
Một điểm chung của các bài viết trong cuốn sách này là “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Như vậy tư tưởng chủ đạo của cuốn sách là nhân tài hay chính là nguồn 5 nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của một đất nước. Vì vậy, muốn đất nước phát triển thì nhất thiết phải quan tâm, chú trọng và đặt mục tiêu hàng đầu vào phát triển nguồn nhân lực. “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, (2005) của Đoàn Văn Khái đã trình bày một số vấn đề chung về CNH, HĐH trên thế giới và Việt Nam; vai trò của nguồn lực con người trong CNH, HĐH; thực trạng nguồn lực con người ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra trước yêu cầu CNH, HĐH; những giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển có hiệu quả nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay.
“Giáo trình nguồn nhân lực”, (2010) của Nguyễn Tiệp đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực, như khái niệm, tiêu chí, phân loại, những yếu tố chi phối đến nguồn nhân lực; trình bày vấn đề giáo dục đào tạo nguồn nhân lực, quản lý, bố trí, sử dụng, trọng dụng, các chính sách, cơ chế đối với nguồn nhân lực của đất nước. Sách “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, (2012) do tác giả Vũ Văn Phúc và Nguyễn Duy Hùng (Đồng chủ biên) đã trình bày một số khái niệm cơ bản về nhân lực, nguồn nhân lực, phân tích đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam, những vấn đề cơ bản để phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là cuốn sách có giá trị tham khảo trong nghiên cứu và trong chỉ đạo thực tiễn phát triển nguồn nhân đất nước hiện nay. Nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế” (2009).
Luận án Tiến sĩ của Lê Thị Mỹ Linh. Tác giả đã đánh giá tổng thể về tình hình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế. Tác giả nêu các ưu nhược điểm, nguyên nhân và các giải pháp cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Bài báo “ATTT - Cơ hội và thách thức”, Tạp chí An toàn thông tin, số 15(214), của tác giả Vũ Quốc Khánh.
Bài báo đã phân tích, đánh giá thực trạng phát 6 triển nhân lực ATTT của Việt Nam và tác động của nó đến hoạt động phát triển KTXH đồng thời cũng đưa ra mục tiêu, phương hướng và các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực đến năm 2015. Giáo trình “Quản lý nhân lực trong doanh nghiệp”, (2008) của Nguyễn Tấn Thịnh. Giáo trình đã đưa ra những quan điểm về ngồn nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất, các khái niệm, nội dung cơ bản của hoạt động quản lý nhân lực trong doanh nghiệp từ lúc hình thành nguồn nhân lực đến việc tổ chức sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực đó trong doanh nghiệp. Tác giả cũng nêu ra những thách thức đối vói công tác quản lý nhân lực trong một môi trường đầy biến động với các yếu tố khoa học, kỹ thuật, kinh tế và xã hội ngày càng phát triển và hiện đại.
Bài viết “Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong công ty nhà nước”, (2008) của tác giả Ngô Thị Minh Hằng. Bài viết trình bày một nghiên cứu về thực trạng phát triển NNL mà chủ yếu là hoạt động đào tạo ở các doanh nghiệp nhà nước thông qua khảo sát một số doanh nghiệp ở địa bàn Hà Nội. Tác giả đã phân tích, đưa ra một số nhận định khái quát về những yếu kém, tồn tại của công tác đào tạo trong các doanh nghiệp này trong thời gian vừa qua. Bài viết “Phát huy nguồn nhân lực bằng động lực thúc đẩy” (2010) của tác giả Nguyễn Văn Long đăng trên tạp chí Khoa học và công nghệ.
Tác giả đưa ra ý kiến trong nền kinh tế tri thức, khi giá trị sản phẩm hơn 80% là hàm lượng chất xám, tài sản nguồn nhân lực càng được đặt vào một vị trí quan trọng.Thúc đẩy người lao động làm việc hiệu quả là vấn đề hết sức quan trọng trong các tổ chức. Người lao động làm việc nhiệt tình, năng suất và hiệu quả công việc cao thì các mục tiêu của tổ chức sẽ dễ dàng đạt được hơn, từ đó tạo thuận lợi không ngừng phát triển. Phát huy nguồn nhân lực bằng động lực thúc đẩy, bài viết dựa trên các lập luận góp phần phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nói trên về phát triển nguồn nhân lực nói chung của một đất nước, của cộng đồng các doanh nghiệp của Việt Nam, góp 7 phần làm rõ hơn quan niệm về công tác phát triển nhân lực.
Các nghiên cứu trên đã đưa ra những lý luận chung về phát triển nhân lực, tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào việc phân tích thực trạng, tổng hợp nhu cầu sử dụng, và đưa ra giải pháp phát triển về chất và lượng của nhân lực Kỹ sư ATTT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Nhằm bổ sung thêm một nghiên cứu cụ thể về phát triển nhân lực Kỹ sư ATTT tại Việt Nam đã đặt ra một hướng đi cho tôi trong việc lựa chọn đề tài mang tên “Phát triển nhân lực kỹ sư ATTT của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài nghiên cứu của luận văn. Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực, về đào tạo để phát triển nguồn nhân lực trong các định hướng, tài liệu, giáo trình, nghiên cứu nói trên là tài liệu tham khảo vô cùng quý giá và bổ ích để tác giả kế thừa, sử dụng, vận dụng và phát triển trong công trình nghiên cứu của mình. Với những nội dung trong luận văn này, tác giả mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác phát triển nhân lực kỹ sư ATTT của Việt Nam.
Luận văn xin kế thừa và tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã công bố có liên quan để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình. Lý luận chung về An toàn thông tin và Kỹ sƣ An toàn thông tin.1 Khái niệm về An toàn thông tin Hiểu theo Quyết định số 63/QĐ -TTg ngày 13 tháng 01 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển An toàn thông tin số quốc gia đến năm 2020 có viết: “An toàn thông tin số” là thuật ngữ dùng để chỉ việc bảo vệ thông tin số và các hệ thống thông tin chống lại các nguy cơ tự nhiên, các hành động truy cập, sử dụng, phát tán, phá hoại, sửa đổi và phá hủy bất hợp pháp nhằm bảo đảm cho các hệ thống thông tin thực hiện đúng chức năng, phục vụ đúng đối tượng một cách sẵn sàng, chính xác và tin cậy (sau đây gọi chung là an toàn thông tin). Nội dung của an toàn thông tin bao gồm bảo vệ an toàn mạng và hạ tầng thông tin, an toàn máy tính, dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin.