Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực. Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực của Trung tâm kinh doanh VNPT- Quảng Nam. Giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực của Trung tâm kinh doanh VNPT- Quảng Nam.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong những năm trở lại đây, đã có nhiều bài viết, tài liệu và nghiên cứu trong nước cũng như của quốc tế về vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức, doanh nghiệp bởi nhân lực là yếu tố then chốt cho sự phát triển của tổ chức. Tuy nhiên, vẫn còn rất ít những công trình chuyên sâu để góp phần khắc hoạ đầy đủ bức tranh phát triển nguồn nhân lực của các doanh nghiệp viễn thông- Công nghệ thông tin hiện nay. Đặc biệt, đối với Trung tâm kinh doanh VNPT- Quảng Nam, phát triển nguồn nhân lực mới chỉ dừng lại ở hoạt động nghiệp vụ, các ghi nhận và đánh giá mang tính nội bộ với mức độ khách quan chưa thật cao. Về các nghiên cứu có liên quan tới đề tài luận văn, có thể kể đến một số nghiên cứu trong nước tiêu biểu sau: - Xét về mặt lý luận thì có thể nhắc đến các cuốn sách: Giáo trình Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp của Nguyễn Tấn Thịnh, xuất bản năm 2005; đã tổng 4 quát một số lý luận cơ bản về nguồn nhân lực cũng như phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ của tổ chức.
Tác giả đã trình bày bản chất của phát triển nguồn nhân lực, nội dung và phương pháp của phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức. [11] - Giáo trình Quản trị nguồn nhân lực của PGS.TS Trần Kim Dung, tái bản có sửa đổi và bổ sung, xuất bản 2018. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn để lý luận, kinh nghiệm tiên tiến trên thế giới và thực trạng quản trị nguồn nhân lực ở Việt Nam, cuốn sách giới thiệu các kiến thức, tư tưởng và kỹ năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực. Tác giả trình bày cô đọng, dễ hiểu và hấp dẫn, giới thiệu khái quát về quản trị nhân lực, ba nhóm chức năng quan trọng nhất của quản trị nguồn nhân lực trong các tổ chức: Thu hút – Đào tạo và Phát triển – Duy trì nguồn nhân lực; Quản trị nguồn nhân lực trong môi trường hiện đại” gồm có “Quản trị nguồn nhân lực quốc tế” và “Đánh giá kết quả quản trị nguồn nhân lực”.
Phần cuối là các tình huống tổng hợp nhằm kết nối toàn bộ các vấn đề chức năng trong quản trị nhân lực của các doanh nghiệp. [18] - Hoạt động phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức, doanh nghiệp đã và đang được các nhà quản lý nghiên cứu. Về mặt thực tiễn, ở nước ta đã có một số công trình Nghiên cứu về lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực như sau: “Nâng cao hiệu quả đánh giá nhu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) giai đoạn 2012 - 2015” của ThS Trần Quang Huy viết năm 2013. Bài viết tiếp cận toàn diện về vấn đề thị trường viễn thông tại Việt Nam cạnh tranh gay gắt nhưng các nhà khai thác Viễn thông, trong đó có VNPT vẫn luôn quan tâm tới công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực của mình và coi đây là hoạt động đầu tư cho lợi thế cạnh tranh trong tương lai.
[16] “Hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại chi nhánh thông tin di động Trà Vinh” Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Mộng Thúy, đã hoàn thành năm 2016. Luận văn đã phân tích những ưu, khuyết điểm xuất hiện trong công tác quản trị nguồn nhân lực đang được chi nhánh thông tin di động Trà Vinh áp 5 dụng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực. [9] “Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Viễn thông Bà Rịa – Vũng Tàu” Luận văn thạc sĩ của Hoàng Nhất Thịnh, hoàn thành năm 2019. Luận văn đã thực hiện đánh giá thực trạng quản trị nguồn nhân lực tại VNPT Bà Rịa - Vũng Tàu, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực của VNPT Bà Rịa - Vũng Tàu một cách khoa học.
[8] Ngoài ra, có rất nhiều các tài liệu, bài viết khác nhau của nước ngoài về các chủ đề có liên quan. Điển hình như: Quản trị công và Chính sách công của tác giả Nicholas Henry, tái bản lần thứ 10, 2007 - Public Administration and Public affairs, 10th edition 2007; Sổ tay phát triển Nguồn nhân lực của tác giả Leonard Nadler xuất bản năm 1990 - The Handbook of Human Resource Development, 2nd edition 1990; “Phát triển nguồn nhân lực trong các ngân hàng Ấn Độ” của Suleman Ibrahim Shelash Al-Hawary và N. Mặc dù có nhiều điểm khác biệt về điều kiện phát triển, nhưng các tài liệu đều thống nhất cao ở tính đặc biệt cấp thiết của vấn đề phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra, các bài viết cũng gợi mở các ý tưởng mới về phát triển tài năng.
Schoenfieldt and James B. Shaw, 1999 xác định tiến trình phát triển nguồn nhân lực tổ chức qua từng giai đoạn. Tập thể giảng viên: Nguyễn Quốc Tuấn, Đoàn Gia Dũng, Đào Hữu Hòa, Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Bích Thu, Nguyễn Phúc Nguyên đồng biên soạn cuốn sách “Quản trị Nguồn nhân lực”, NXB Thống kê 2006. Giáo trình gồm 8 chương nói về Quản trị nguồn nhân lực.
Trong đó, chương 7 tập trung đề cập đến công tác đào tạo và phát triển NNL. Những vấn đề chính được đề cập trong chương này gồm các khái niệm và thuật ngữ có liên quan đến nguồn nhân lực, đào tạo và phát NNL. Luận văn thạc sĩ kinh tế của Diệp Hương Chi (2013), “Đào tạo nguồn nhân lực tại VNPT Đà Nẵng”. Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về đào tạo nguồn nhân lực, phân tích thực trạng nguồn nhân lực và đánh giá thực trạng 6 công tác đào tạo nguồn nhân lực, qua đó, đề xuất giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại VNPT Đà Nẵng; [5] PGS.TS Võ Xuân Tiến trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng đã có bài báo khoa học: “ Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực”.
Bài báo này làm sáng tỏ nội dung: Nguồn nhân lực là nguồn lực quý giá nhất của các tổ chức, đơn vị là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trong tương lai. Bởi vậy, các tổ chức và doanh nghiệp luôn tìm cách để duy trì và phát triển nguồn nhân lực của mình. Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu trên là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Qua đó, bài báo đã làm rõ các nội dung của phát triển nguồn nhân lực và được tham khảo để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
Bài báo khoa học: “Phát huy nguồn nhân lực bằng động lực thúc đẩy: của Th.S Nguyễn Văn Long trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng. Bài viết nêu bật được ý nghĩa và vai trò quan trọng của động lực thúc đẩy đối với người lao động. Qua đó bài viết cũng đã làm rõ nội dung và các yếu tố mà doanh nghiệp có thể s dụng để nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng động lực thúc đẩy [17]. Nói tóm lại, cho tới nay có khá nhiều nghiên cứu nhưng chỉ đề cập tới một số khía cạnh liên quan như lao động, thu nhập và đào tạo nói chung chứ chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào mang tính toàn diện và có hệ thống về phát triển nguồn nhân lực cho ngành viễn thông nói chung cũng như cho Trung tâm kinh doanh VNPT Quảng Nam nói riêng Nhận thức rõ điều đó, đề tài kế thừa những thành tựu nghiên cứu, đồng thời tiến hành chọn Trung tâm Kinh doanh VNPT Quảng Nam làm nghiên cứu chuyên sâu.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Tổng quan về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nếu như trước đây phương thức quản trị nhân viên với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ "nguồn nhân lực" là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con người. Tùy theo giới hạn yêu cầu và mục đích nghiên cứu mà khái niệm nguồn nhân lực được hiểu theo nhiều cách khách nhau: Theo Nguyễn Tấn Thịnh (2005) nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất.
Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. Theo Đỗ Văn Phức (2010) thì “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng lao động mà tổ chức cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của tổ chức. Nhân lực của tổ chức là sức mạnh của lực lượng lao động, sức mạnh của đội ngũ lao động” Theo Bộ môn Quản trị nguồn nhân lực – Trường Đại học Kinh tế - ĐHĐN (2019), Nguồn nhân lực là nguồn vốn con người gồm những nhân viên trong tổ chức với kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, chính kiến, sự thông minh, các mối quan hệ, và các đặc điểm mà nhân viên có thể làm gia tăng giá trị kinh tế cho tổ chức. 8 Từ các quan điểm và nhận định trên ta có thể rút ra một nhận định chung về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là tổng hợp các cá nhân, có kiến thức, kỹ năng chuyên môn, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để hình thành, duy trì và đóng góp vào sự phát triển chung của tổ chức, xã hội.