đặt vấn đề chất lượng sản phẩm va dịch vụ. Tư duy mới đã khiến các doanh nghiệp bắt tay vào thực hiện các biện pháp tổ chức lao động linh hoạt hơn, đa dạng hơn, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi mới của khách hang. Các tổ chức ý thức được rang: tinh trạng thiếu hoà hợp giữa nhu cầu của hoạt động và nguồn nhân lực thực tế, đặc biệt trên khía cạnh năng lực là đồng nghĩa với hiệu suất tồi. Hoạt động phát triển NNL ra đời, năng lực mà công việc trong tô chức đòi hỏi đã trở thành một thách thức chiến lược.
Ít lâu sau, đầu tư cho con người được nhìn nhận một cách logíc như một khoản đầu tư riêng biệt. Như vậy, khu vực tư nhân bắt đầu bàn về phát triển NNL như là một lĩnh vực (ngành) khoa học vào cuối những năm 1970 và đã tiến hành các hoạt động cụ thể trong những năm 1980 và đã đạt được những thành công. Phát triển NNL đã được nhiều nhà quản trị, nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu, đúc kết, và được phát triển thành một khoa học là một yếu tố của Quản trị NNL. Đến nay, việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình đào tạo nhằm phát triển NNL được các tập đoàn ở các nước ngày càng quan tâm, đặc biệt là các công ty lớn của Nhật Bản và Mỹ, hoạt động này được triển khai liên tục và thường xuyên: e Tập đoàn Nikon đã xây dựng hệ thống đảo tạo của mình dựa trên ba tiêu chí gắn với hệ thống nhân sự của công ty: xác định mục tiêu và khả năng hoàn thành; năng lực dao tạo và nội dung chi tiết các chương trình khóa học cho nhân viên nhằm nâng cao trình độ và kỹ năng.
Bản thân các công ty thành viên cũng có những chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực riêng. e Tập đoàn Samsung’: dé đáp ứng chiến lược phát trién NNL, Samsung triển khai thực hiện theo ba chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển đội ngũ quản lý đáp ứng chiến lược kinh doanh toàn cầu của mình. Các chương trình đào tạo được thiết kế phù hợp với trình độ, đối tượng quản lý và nhu cầu phát triển của Samsung, đó là: chương trình “Chia sé Gia tri Samsung”, chương trình “Lãnh dao Kinh doanh Samsung’, chương trình ‘Tai năng Toàn cầu Samsung’. Dựa trên cơ sở mô hình dao tạo phát triển NNL chung của tập đoàn, các công ty thành viên xây dựng mô hình đào tạo riêng phù hợp với đặc điểm, lĩnh vực kinh doanh và nhu cầu phát triển NNL của mình.
Một trường hợp điển hình là Công ty Điện tử Samsung. 'Theo nguồn Attp://hrd.com/ Công ty xây dựng một chương trình đào tạo mang tính hệ thống trong đó bộ phận quản lý nguồn nhân lực, bộ phận dao tạo và bộ phận chức năng hợp tác một cách chặt chẽ trong việc xây dựng chiến lược phát trién NNL. Bên cạnh chương trình đào tạo nội bộ, Công ty cũng triển khai các chương trình dao tạo kết hợp với các trường đại học nồi tiếng và các chuyên gia của khu vực nhằm nâng cao năng lực của NNL. Mục tiêu của chương trình phát triển NNL của Công ty là xây dựng chương trình đào tạo đem lại lợi ích thực sự cho hoạt động kinh doanh.
Tổ chức phát triển NNL bao gồm hai hệ thống: (i) trung tâm nghiên cứu kỹ thuật ở cấp độ công ty nhằm thúc day những năng lực cốt lõi chung và (ii) các tô chức đào tạo cấp phòng/ban chịu trách nhiệm về các yêu cầu kỹ thuật đặc biệt. Chương trình phát triển nguồn nhân lực của công ty áp dụng chiến lược “Lựa chọn & Tập trung” dé nang cao nang luc cốt lõi trong lĩnh vực kỹ thuật số nhằm nhận biết tầm nhìn của một công ty hang đầu thế giới trong lĩnh vực này. Năng lực cốt lõi trong lĩnh vực kỹ thuật số tập trung vào bốn nội dung gồm: chia sẻ giá trị, bồi dưỡng lãnh đạo tương lai, nâng cao năng lực toàn cầu và phát triển chuyên gia. e Tập đoàn Toyota”: Toyota là một công ty đầu tư khá nhiều nguồn lực cho việc xây dựng chương trình đào tạo nhằm phát triển NNL nói chung và nhân lực quản lý nói riêng.
Toyota đã xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực trên cơ sở phát huy tối đa năng lực của từng nhân viên. Tập đoàn dựa vào các cấp quản lý trong tô chức và thị trường hoạt động dé xây dựng các chương trình đào tạo phi hợp với các đối tượng cần đào tạo. Bên cạnh đó, Toyota cũng xây dựng các chương trình theo lộ trình phát triển của cán bộ quản lý. Điều này thé hiện qua sơ đồ sau: * Theo nguồn http:/www.com/sustainability/stakeholders/employees/ Nguồn: hftp:/www.com e IBM cũng đặc biệt coi trọng vấn đề đào tạo phát triển NNL.
Sơ đồ sau thể hiện sự thay đôi về quan điểm và chiến lược đào tạo phát triển nguồn nhân lực của IBM đáp ứng yêu cầu kinh doanh toàn cầu.2: Sơ đồ quan điểm phát triển nguồn nhân lực của IBM Tại sao đội ngũ quản lý đầu tàu (Workfore Management Initiatve - WMI được đặt đúng vị trí? 1. IBM đã WMI đang thực hiện: - Không thiết kê chuỗi cung ứng nguôn | - Thiết kế chuỗi cung ứng chung dựa lực trên thực tiễn - Không có sự chỊu trách nhiệm chung | - Giám sát tập trung các đơn vi 2. IBM đã Cùng với WMI: - Không có tiêu chuân dé xác định đội | - Đội ngũ quản lý được phân loại chặt ngũ quản lý chẽ trong các đơn vị kinh doanh (phân - Lực lượng lao động được quản lý độc | loại theo chuyên môn) lập bởi các đơn vị kinh doanh - Lực lượng lao động được tối ưu hóa ở câp độ quôc gia 3. IBM đã WMI đang hướng tới: - Hạn chê trong việc dự báo nhu câu | - Dự báo nguôn lực băng việc sử dụng nguôn nhân lực tiéng nói chung - Gặp khó khăn trong việc kết nối đầu tư | - Đầu tư cho đào tạo theo nhu cầu đã dự Các quy trình, chính sách và biện pháp WMI đang thực hiện: - Không có chiến lược nguồn lực thống | - Sử dụng tối ưu các nguôn lực nhất - Các mô hình công việc khác nhau - Hệ thống quan lý đã không khuyến | - Gia tăng sự kết hợp lao động luân khích sự cộng tác giữa các đơn vi chuyền W.MI là một chuỗi các chiến lược, chính sách, quy trình và công cụ có thé tôi u hóa việc bồ trí lao động dựa trên nên tang kiên thức Có thé thấy các mô hình, chiến lược phát triển của các Tập đoàn trên đã đạt được sự đồng bộ, hải hòa và hiệu quả.
Đồng bộ từ trên xuống dưới, phát triển nguồn nhân lực từ quản lý cấp cao tới nhân viên. Hài hòa giữa mục tiêu công ty, nguồn lực sẵn có và nhu cau thị trường. Từ đó nguôồn nhân lực được sử dụng ngày càng hiệu quả và tất nhiên điều này góp phần nên sự lớn mạnh ngày một lớn của các Tập đoàn. Đây chính là những kinh nghiệm quý báu dé các doanh nghiệp Việt Nam nói chung va tập đoản Hòa Phát nói riêng có thé học hỏi và xây dựng các chương trình phát triển nguồn nhân lực phù hợp với năng lực trình độ cán bộ quản lý, văn hóa Việt Nam và môi trường kinh doanh trong, ngoài nước.12 Tình hình nghién cứu trong nước Đến nay, một số các công trình nghiên cứu về van đề phát trién NNL đã được thực hiện ở trong nước như: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước” - Luận văn tiễn sỹ của nghiên cứu sinh Nguyễn Bắc Son đã đề cập tới công tác tuyên dụng, đào tạo nguồn nhân lực công chức nhà nước.
Trong Luận văn này, tác giả đã làm rõ được nội dung, yêu cầu của công tác đảo tạo cán bộ, công chức nhà nước. Trong đó nhấn mạnh tới việc đào tao trang bị kiến thức, kỹ năng cho cán bộ công chức quản lý nhà nước về quản lý kinh tế và quản lý hành chính. Trong Luận văn tiến sỹ kinh tế nghiên cứu sinh Lê Trung Thành “Hoàn thiện mô hình đào tao và phát triển cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp nha nước ở Việt Nam”, đã đánh giá công tác dao tao cán bộ quản lý cho các DNNN Việt Nam trong giai đoạn đổi mới. Luận văn đi sâu vào phân tích đánh giá các mô hình dao tạo cán bộ quản lý doanh nghiệp hiện nay và đề xuất giải pháp hoàn thiện các mô hình này.
Một số cuốn sách viết về phát triển nguồn nhân lực do các tác giả trong nước biên soạn đã được xuất bản. Cuốn “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” do Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm làm chủ biên (1996) đã giới thiệu về kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi quốc gia, trong đó có chính sách phát triển nguồn nhân lực ở một số nước trên thế giới. Trong cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo - Kinh nghiệm Đông Á” của Viện Kinh tế Thế giới (2003), các tác giả đã giới thiệu thành tựu đạt được của nhóm nước trong khu vực về phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo. Các chính sách thành công về giáo dục đào tạo của các nước Đông Á là giải pháp quan trọng trong cung cấp NNL đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa.
Đây cũng là bài học cho Việt Nam trong sự nghiệp phát triển NNL Báo cáo thường niên về doanh nghiệp Việt Nam của Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) do TS. Phạm Thị Thu Hằng là chủ biên đã phân tích về thực trạng lao động và phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp trên cơ sở xem xét, so sánh tác động của yêu tô lao động đôi với các ngành dệt may, xây dựng, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất chế biến thực phẩm đồng thời đưa ra giải pháp chiến lược đối với việc phát triển nguồn nhân lực của các ngành này. Đề tài cấp bộ: B2006-06-13 “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trên địa ban Hà Nội sau khi Việt Nam gia nhập WTO (giai đoạn 2006-2010) do TS. Phạm Quang Trung làm chủ nhiệm đề tài (2008) đã đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV vì nguồn nhân lực là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ngoài ra, một số các đề tài, tài liệu khác về phát triển NNL đã được công bó.