CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NHÂN KỸ THUẬT TRONG DOANH NGHIỆP 1. Nguồn nhân lực công nhân kỹ thuật Công nhân kỹ thuật Theo tác giả Trần Xuân Cầu, công nhân kỹ thuật được định nghĩa là người được đào tạo và được cấp bằng (đối với những người tốt nghiệp các chương trình dạy nghề dài hạn từ 1 đến 3 năm) hoặc chứng chỉ (đối với những người tốt nghiệp các chương trình dạy nghề ngắn hạn dưới 1 năm) của bậc giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục để có năng lực thực hành – thực hiện các công việc phức tạp do sản xuất yêu cầu. [2, trang 103] Tác giả Nguyễn Vân Thùy Anh cho rằng “công nhân kỹ thuật là những công nhân được đào tạo trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, được cấp bằng hoặc chứng chỉ nghề nghiệp, nhằm đảm bảo họ có đủ năng lực thực hành – thực hiện các công việc phức tạp do sản xuất yêu cầu, trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp”. [1, trang 12] Luật Dạy nghề đưa ra khái niệm: “tiêu chuẩn kỹ năng nghề quy định về mức độ thực hiện các công việc của một nghề”.
Như vậy, các tiêu chuẩn kỹ năng nghề đặt ra những yêu cầu cụ thể về mức độ thực hiện công việc cho CNKT. Để đáp ứng đầy đủ về mặt kiến thức và kỹ năng, CNKT cần được đào tạo trong một thời gian phù hợp và nhận chứng chỉ về chứng nhận trình độ lành nghề nhằm đảm nhận được những công việc với độ khó nhất định theo yêu cầu sản xuất. Phân loại công nhân kỹ thuật Theo tác giả Nguyễn Vân Thùy Anh, nhìn nhận dưới góc độ phân công lao động theo chức năng, CNKT được chia làm 2 nhóm chính: Công nhân chính: là những công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc đứng máy, làm biến đổi tính chất, hình dạng của đối tượng lao động. Đó là các công nhân 8 trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất như công nhân đứng máy gồm có công nhân dập, công nhân vận hành máy nén khí, tổng hợp nhựa, chế biến sơn, hoặc các giai đoạn khác như sơn, nguội, hàn điện, hàn hơi… Công nhân phụ: là những công nhân thực hiện các chức năng phụ trong sản xuất chính, sản xuất phụ và sản xuất phụ trợ.
Đó là những công nhân không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, nhưng bằng lao động của mình đảm bảo cho hoạt động sản xuất được bình thường. Trong doanh nghiệp sơn, công nhân phụ là các công nhân sửa chữa điện, sửa chữa cơ, kiểm tra cơ khí phục vụ cho việc sửa chữa, bảo đảm máy móc hoạt động bình thường, công nhân vận chuyển nội bộ… Theo hình thức phân công lao động theo công nghệ và mức độ chuyên môn hóa, CNKT được phân chia thành các nghề: Nhìn nhận dưới hình thức phân công lao động theo mức độ phức tạp của công việc, CNKT được chia theo trình độ lành nghề (bậc thợ) khác nhau. Công ty cổ phần Sơn chủ yếu chia công nhân thành 7 bậc thợ, từ bậc 1 là những công nhân có trình độ lành nghề thấp nhất đến cao nhất là bậc 7. công nhân vận chuyển nội bộ chỉ được chia 3 bậc vì lí do yêu cầu của công việc đối với những công nhân này không quá phức tạp để chia thành những bậc nhỏ, tuy vậy công việc đòi hỏi công nhân mỗi bậc phải bao quát được và nắm rõ các yêu cầu của công việc được giao.
Phát triển nguồn nhân lực công nhân kỹ thuật Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân, phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Trong doanh nghiệp, có 2 hình thức phát triển CNKT là phát triển nghề nghiệp và phát triển quản lý. Phát triển nghề nghiệp là doanh nghiệp tạo cơ hội và điều kiện để công nhân có thể phát triển các kỹ năng, kiến thức và chuyên môn nghề nghiệp nhằm giúp họ giỏi hơn trong công việc, còn phát triển quản lý là hoạt động phát triển những kỹ năng quản lý nhằm giúp CNKT có thể trở thành những quản lý hiệu quả trong tương lai. Hoạt động phát triển nghề nghiệp CNKT trong Công ty cổ phần Sơn gồm: đào tạo nâng bậc và thi nâng bậc, đào tạo thêm nghề mới cho các công nhân đã thành 9 thạo nghề 1 nghề.
Hoạt động phát triển quản lý gồm các hoạt động phát triển thăng tiến cấp bậc quản lý như trưởng phòng, trưởng bộ phận, tổ trưởng, tổ phó sản xuất, quản đốc phân xưởng. Nội dung phát triển nguồn nhân lực công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp Phát triển NNL trong doanh nghiệp là phát triển NNL cả về chất lượng và số lượng phù hợp về cơ cấu nhằm thực hiện tốt nhất mục tiêu của DN. Luận văn tiếp cận đề tài theo cách này nhưng được đánh giá trên các tiêu trí thể lực, tâm lực và trí lực (đạo đức nghề nghiệp). * Một số tiêu chí đánh giá công tác phát triển NNL trong doanh nghiệp Thực tế tại các doanh nghiệp, khi đề cập đến PTNNL ta thường đề cập đến phát triển về thể lực, phát triển về tâm lực và phá triển về trí lực cho người lao động.
Trong đó: - Thể lực: là năng lực thể chất của NNL, đây là tiêu chí khá quan trọng về chất lượng NNL, thường bao gồm tiêu chí vì tình trạng sức khỏe của con người như: chiều cao, cân nặng, bệnh tật, tuổi thọ, trạng thái thoải mái về tinh thần cũng như thể chất và xã hội của con người. - Trí lực: biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật của NNL, tinh thần, thái độ, tác phong làm việc. - Tâm lực thể hiện qua thái độ làm việc và khả năng chịu áp lực công việc của NNL. Thái độ là những đánh giá hay phát biểu có giá trị về sự vật, con người hay đồ vật.
Thái độ phản ánh con người cảm thấy như thế nào về một điều nào đó. Thái độ của người lao động được thể hiện qua: + Thái độ với cấp trên: luôn tôn trọng, lịch sự với cấp trên, nghiêm túc tuân thủ những mệnh lệnh có liên quan đến công việc, tiếp thu ý kiến đóng góp xây dựng để nâng cao hiệu quả công việc cá nhân… + Thái độ với đồng nghiệp: luôn tôn trọng, lịch sự, hòa đồng với đồng nghiệp, sẵn sàng hợp tác, giúp đỡ đồng nghiệp trong phạm vi chức trách của mình. 10 + Thái độ với khách hàng: luôn tôn trọng, lịch sự, nhiệt tình, tận tâm, săn sóc, sẵn sàng lắng nghe ý kiến của khách hàng và có tinh thần hợp tác nhằm cung cấp tới khách hàng dịch vụ, sản phẩm tốt nhất. + Trong công việc luôn có sự đam mê: đó là việc dành hết tâm huyết đối với công việc mình đang làm để làm sao hoàn thành công việc một cách tốt nhất.
Không ngừng học tập để nâng cao khả năng cũng như kỹ năng đáp ứng yêu cầu của công việc bằng việc tự học, tự mày mò nghiên cứu tìm kiếm tài liệu để đọc, tham gia các khóa học đào tạo có liên quan đến công việc… Tự nhận thức được bản thân mình cần gì và nên làm gì, biết được điểm mạnh, điểm yếu và tiềm năng của mình để phát huy và học hỏi nâng cao nghiệp vụ kỹ năng trong công việc. Các hoạt động phát triển NNL được thể hiện ở các mặt chất lượng, số lượng và cơ cấu NNL. Đề tài tiếp cận nội dung theo cách này. Bảo đảm về số lượng và hợp lý về cơ cấu Phát triển NNL về số lượng chính là việc gia tang số lượng và đảm bảo cân đối nhân lực trong doanh nghiệp thông qua hoạt động nhất định.
Tại các doanh nghiệp, các hoạt động được tiến hành nhằm phát triển số lượng NNL bao gồm hoạt động tuyển dụng và hoạt động bố trí, sử dụng lao động. Việc bố trí và sử dụng có hiệu quả NNL của một DN là quá trình sắp đặt nhân lực vào các vị trí của tổ chức để khai thác, phát huy hiệu quả năng lực làm việc của người lao động sao cho đạt kết quả lao động cao nhất [11, trang 109]. Việc bố trí và sử dụng hiệu quả NNL phải phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, mục tiêu của DN, có nghĩa là thành phần, tỷ trọng, vai trò của các bộ phần NNL đó phải xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu của DN. Nếu sử dụng thừa NNL sẽ gây lãng phí, còn nếu sử dụng thiếu NNL thì sẽ không hoàn thành nhiệm vụ theo mục tiêu của DN.
Nó sẽ ảnh hưởng đến đến năng suất lao động cao hay thấp trong toàn bộ DN, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và giá thành sản phẩm, từ đó có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của DN, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện kế hoạch sản xuất và ảnh hưởng đến các mối quan hệ trong DN. Bố trí nhân lực bao gồm: các hoạt động định hướng (hay còn gọi là hòa nhập) đối với người lao động khi bố trí họ vào vị trí việc làm mới, bố trí lại lao động thông qua 11 thuyên chuyển, đề bạt và xuống chức – hay còn gọi là quá trình biên chế nội bộ doanh nghiệp. Nếu quá trình bố trí nhân lực được thực hiện có chủ định và hợp lý tổ chức sẽ động viên được sự đóng góp của người lao động ở mức cao nhất. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực công nhân kỹ thuật Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực [3, trang 15].
Trên cơ sở khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực nêu trên ta có thể hiểu phát triển chất lượng nguồn nhân lực chính là tổng thể các hình thức, phương pháp và chính sách nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý – xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và của doanh nghiệp, tổ chức nói riêng trong từng giai đoạn nhất định. Có nhiều hoạt động mà các doanh nghiệp sử dụng để nâng cao chất lượng NNL, trong đó hoạt động đào tạo, bồi dưỡng NNL được xem là hoạt động cơ bản nhất. Nội dung các hoạt động phát triển nguồn nhân lực công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp 1. Tuyển dụng Theo Nguyễn Hữu Thân, tuyển dụng có thể hiểu là quá trình tìm kiếm và lựa chọn đúng người để thỏa mãn nhu cầu lao động và bổ sung cho lực lượng lao động hiện có.