phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng, 9 tiết. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. CÁC CÔNG TRÌNH, NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình khoa học nƣớc ngoài liên quan đến nguồn nhân lực - Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Viện kinh tế thế giới), Phát triển nguồn nhân lực: kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta [52].
Cuốn sách giới thiệu khái quát về vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế đổi mới và những kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực ở một số nƣớc trên thế giới. Công trình này khẳng định rằng: vận dụng tốt những kinh nghiệm quý báu đó vào phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam sẽ tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. - Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên), Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài [1]. Cuốn sách giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề “bồi dƣỡng nhân tài” của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đặc biệt, các tác giả đã tập trung làm rõ vai trò của gia đình, nhà trƣờng và xã hội trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dƣỡng, sử dụng và đãi ngộ ngƣời tài, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp để nâng cao và phát triển nguồn nhân lực này. - Mai Quốc Chánh, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước [2]. Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nƣớc. - Christian Batal, Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực Nhà nước [119].
Nội dung trong cuốn sách này tập trung phân tích năng lực làm việc của cán bộ công chức thuộc khối doanh nghiệp nhà nƣớc. Xây dựng khung 7 năng lực tiêu chuẩn, trên cơ sở đó phân loại năng lực; đồng thời mô tả công việc chuyên môn của một số công việc chuyên trách yêu cầu nhân lực chất lƣợng cao nhƣ: Phụ trách đào tạo trong một cơ quan Nhà nƣớc, công việc của một thủ trƣởng đơn vị trong doanh nghiệp Nhà nƣớc…. - Nguyễn Hữu Dũng, Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam [7]. Cuốn sách làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con ngƣời trong phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực con ngƣời trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
- Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (chủ biên), Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn [38]. Cuốn sách là tập hợp các bài nghiên cứu, bài viết, bài tham luận tại Hội thảo của Đề tài KX.11 thuộc Chƣơng trình khoa học - công nghệ cấp nhà nƣớc KX.05 (giai đoạn 2001-2005), với các vấn đề lý luận, kinh nghiệm và những khuyến nghị chính yếu trong quản lý nguồn nhân lực Việt Nam. Công trình có ý nghĩa quan trọng để Nhà nƣớc Việt Nam quản lý hiệu quả nguồn nhân lực Việt Nam, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH và thực hiện công cuộc đổi mới đất nƣớc theo định hƣớng XHCN. - Đoàn Văn Khái, Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam [17].
Tác giả đã phân tích về con ngƣời với tƣ cách là nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc. Tác giả coi con ngƣời là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên; giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ quá trình CNH, HĐH là do con ngƣời và vì con ngƣời. Tác giả cũng đƣa ra những giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay. 8 - Bùi Văn Nhơn, Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội [39].
Cuốn sách gồm 6 chƣơng, trình bày: Dân số - cơ sở tự nhiên hình thành nguồn lực xã hội; nguồn nhân lực và những đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam; phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực xã hội vào sản xuất xã hội; việc tổ chức tiền lƣơng và bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế quốc dân; tổ chức phân bổ dân cƣ và nguồn nhân lực xã hội. - Phạm Minh Hạc (Chủ biên), Phát triển văn hoá, con người và nguồn nhân lực thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [12]. Cuốn sách đã phân tích mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá, con ngƣời và nguồn nhân lực. Phát triển văn hoá, con ngƣời và nguồn nhân lực phải đặt trong một tổng thể không tách rời nhau, gắn kết nhau trong một thể thống nhất.
Đồng thời, nhóm tác giả cũng làm rõ chất lƣợng nguồn nhân lực của ngƣời lao động đƣợc thể hiện ở tri thức tốt, kỹ năng cao và tính nhân văn. Công trình đã phân tích các vấn đề lý luận về con ngƣời, phát triển con ngƣời, phát triển nguồn nhân lực; các định hƣớng và giải pháp phát triển NNLCLC. Trong đó, phát triển giáo dục - đào tạo là biện pháp quan trọng hàng đầu, có tầm quyết định để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực. - Phạm Công Nhất, Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay [34].
Tác giả khẳng định Việt Nam là một nƣớc có tốc độ phát triển nguồn nhân lực nhanh cả về số lƣợng và chất lƣợng. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế đất nƣớc và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự cạnh tranh giữa các quốc gia về nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ, thì chất lƣợng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực ở Việt Nam. - Nguyễn Văn Tài, Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ nước ta hiện nay [43].
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ 9 tƣởng Hồ Chí Minh, cuốn sách đã phân tích, làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của đƣờng lối, chính sách cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc biệt với phƣơng pháp tiếp cận hệ thống, tác giả đã đƣa ra những đánh giá sát thực về tình hình cán bộ Việt Nam hiện nay, đề xuất những giải pháp cụ thể, có tính khả thi để góp phần kiện toàn, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ các cấp. - Trần Khánh Đức, Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI [10]. Cuốn sách đã làm rõ vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo trong phát triển con ngƣời nói chung và nguồn nhân lực đất nƣớc nói riêng.
Tác giả đã làm rõ khái niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực và các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực. Tác giả cho rằng, khâu đột phá để phát triển nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là phải đổi mới, cải cách giáo dục và đào tạo. - Nguyễn Văn Phúc, Mai Thị Thu (Đồng chủ biên), Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam [41]. Nội dung của cuốn sách đề cập đến quá trình hình thành và phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian qua dƣới sự tác động của các yếu tố văn hóa, lịch sử, kinh tế và chính trị cũng nhƣ quá trình hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa.
Cuốn sách khẳng định, trên thực tế, tài nguyên nhân lực Việt Nam đã hình thành đƣợc những lợi thế nhất định, đã đƣợc khai thác, sử dụng và phát huy đƣợc vai trò tích cực của mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, tài nguyên nhân lực nói chung và lực lƣợng lao động Việt Nam nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên này vẫn có những yếu kém đòi hỏi cần có những nỗ lực to lớn để khắc phục. Cuốn sách đề xuất những giải pháp, chính sách cụ thể về khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nhân lực trong giai đoạn tới là nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, nội dung và cách tiếp cận đối với việc khai thác, phát triển tài nguyên nhân lực quốc gia.
10 - Công trình nghiên cứu của các chuyên gia Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB: Asean Development Bank - 2005) [116], đã đƣa ra cảnh báo với các quốc gia đang phát triển sẽ có nguy cơ rơi vào 3 cái bẫy kỹ năng thấp nếu thiếu quan tâm đầu tƣ vào vốn con ngƣời. Ba cái bẫy đó là: Một là: Kỹ năng của ngƣời lao động thấp, lao động ít đƣợc đào tạo, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh thấp. Nếu cố gắng khai thác lợi thế chi phí tiền lƣơng thấp thì có thể rơi vào vòng luẩn quẩn. Hai là: Công nghệ thấp, công nhân không có đủ kỹ năng để làm chủ và vận hành máy móc thiết bị hiện đại, không khai thác hết công suất máy móc, thiết bị, gây lãng phí.
Hậu quả lâu dài là không có động lực đầu tƣ đổi mới máy móc, thiết bị và nâng cao trình độ công nghệ, năng suất sẽ tiếp tục giảm. Ba là: Ngƣời lao động ít sáng kiến, sáng tạo do thiếu tích luỹ kiến thức và kỹ năng thông qua giáo dục - đào tạo. - Nguyễn Tiệp, Tác động của WTO đối với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam [48]. Trong bài viết tác giả đã phân tích tác động hai chiều đến phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam khi gia nhập WTO; đồng thời đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới nhƣ: Nhà nƣớc cần có chƣơng trình đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho các ngành nghề chịu sự tác động lớn sau khi gia nhập WTO; Mở rộng đào tạo nhân lực chuyên môn, kỹ thuật thuộc các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ; Tăng nhanh nhân lực chuyên môn - kỹ thuật; Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn lao động phù hợp với thông lệ chung của WTO và hoàn thiện chính sách thị trƣờng lao động.