Chương 1: Đặt vẫn đề 1. Sự cần thiết của đề tài 1. Mục tiêu nghiên cứu 1. Nội dung nghiên cứu 1.
Phạm vi nghiên cứu 1. Cấu trúc đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 3. Tổng quan về tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 3.
Điều kiện kinh tế 3. Điều kiện xã hội 3. Đánh giá tổng quan Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1 Tổng quan về làng nghề truyền thống của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 4. Sơ lược về mẫu điều tra 4.
Khái quát về mẫu điều tra 4. Đánh giá tình hình thực trạng sản xuất mỹ nghệ sò ốc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Những yếu tố thuận lợi và khó khăn của hộ sản xuất mỹ nghệ sò ốc 4. Nhu cầu và nguyện vọng của hộ sản xuất mỹ nghệ sò Ốc 4.
Đối tượng tiêu thụ mỹ nghệ sò dc 4. Ý kiến của hộ sản xuất mỹ nghệ sò ốc 4. Định hướng phát triển nghề mỹ nghệ sò ốc 4. Giải pháp phát triển nghề mỹ nghệ sò ốc Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5.
Kiến nghị CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Định nghĩa các sản phẩm thi công Các sản phẩm thủ công được định nghĩa là các đồ vật được sản xuất hoàn toàn bằng tay hoặc có sự hỗ trợ của các dụng cụ dùng tay hoặc dùng máy nhưng mức độ sử dụng hạn chế và chủ yếu vẫn dùng tay để tạo nên các sản phẩm hoàn chỉnh. Những sản phẩm này được sản xuất với số lượng không hạn chế và sử dụng nguyên liệu thô. Những san phẩm thủ công phải hữu dụng, có thẩm mỹ, sáng tạo, mang đặc trưng văn hóa, thể hiện nét truyền thống, và là biểu trưng cho tôn giáo và xã hội.
Khái niệm về làng nghề Trong lịch sử phát triển phạm trù làng gắn với cộng đồng dân cư ở nông thôn. Thông thường khi nói đến hoạt động kinh tế của làng, trước hết phải nói đến hoạt động truyền thống là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Quan niệm về làng nghề trước hết phải gắn liền với hoạt động tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn, Cho đến nay trong giới nghiên cứu còn có nhiều cách hiểu, quan niệm và định nghĩa khác nhau về làng nghề, một trong những định nghĩa đó là “Làng nghề là một làng có nghề tiểu - thủ - công đã từng tồn tại trong lịch sử hoạt trong thời gian nhất đinh, có sản phẩm hàng hóa nỗi tiếng hoặc có khối lượng hàng hóa lớn có vai trò nhất định đối với thị trường trong nước và quốc tế, có số đông người trong làng cùng làm một hoặc nhiều nghề, dân làng sống chủ yếu bằng các nghề đó.” Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Làng nghề là những làng nghề sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam. Trước năm 1954 các làng nghề được tổ chức chỉ khác các làng nông nghiệp ở chỗ nó có phường nghề và thờ cúng tô nghề.
Xóm làng tuy có chợ nhưng không thành dãy phố, không có các cửa hàng cửa hiệu. Các gia đình tập hợp theo huyết thống (dòng họ), theo quan hệ xóm giéng, theo lứa tuổi (giáp) và theo thiết chế hành chính (dân làng, xã, kỳ mục và lí dịch). Cố gắng trong phường nghề chủ yếu là thờ cúng tổ nghề, giúp nhau bằng cách cho vay vốn hoặc nguyên liệu, hàng hóa, phường nghề chưa được như phường hội Châu Âu. Trong các làng nghề có quan hệ thuê mướn lao động, nhưng chưa được như phường hội ở Châu Âu, trong các làng nghề có thuê mướn lao động, nhưng chưa hình thành các công trường thủ công, hầu hết dân làm nông - công kết hợp.
Một số làng tiêu biểu ở Việt Nam: Làng gốm bát tràng (Gia Lâm, Hà Nội), làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh), làng dét La Khê (Hà Tây), làng làm giấy (Hà Nội), .Ngày nay các làng nghề đang được phục hồi, diện nạo của nó đã được thay đối. Tuy vậy quan hệ chủ hộ - thợ và người làm thuê đã xuất hiện, cùng với sự hình thành những xí nghiệp cỡ nhỏ. Phát triển làng nghề O nông thôn Việt Nam, kinh tế và văn hóa phát triển luôn đi đôi với sự phát triển làng nghề. Làng nghề không chi là trung tâm sản xuất đồ thủ công mà còn là nơi hội tụ những thợ thủ công tay nghề cao hay nghệ nhân và các nguyên liệu độc đáo hay kỹ thuật sản xuất độc đáo.
Các mặt hàng sản xuất ra không chỉ là các sản phâm phục vụ sinh hoạt hàng ngày hay hàng tiêu ding mà còn bao gồm các sản phẩm mỹ nghệ hay thờ cúng. Xét từ quan điểm này, các làng nghề được coi là nơi tiêu thụ các kỹ thuật truyền thống lâu đời đã tạo ra văn hóa và môi trường kinh tế xã hội. Việc xuất khẩu sản phẩm thủ công đã bắt đầu từ giữa thế kỷ 11. Trong vài năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng do ảnh hưởng của quá trình phát triển đối với nền kinh tế thị trường và khuyến khích xuất khấu.
Do áp dụng chính sách khuyến công, việc thúc day hàng thú công đã làm tăng mức thu nhập trung bình của người lao động và việc áp dụng những công nghệ mới ngày càng phố biến. Tuy nhiên, cũng do ảnh hưởng của quá trình khuyến khích phát triển nghề thủ công, ngày nay có nhiều thợ thủ công có tay nghề cao và lực lượng lao động trẻ tìm tới khu đô thị để làm việc cho các nhà máy, xưởng sản xuất sản phẩm thủ công lớn đang ngày càng nhiều ở ngoại ô các thành phố lớn như Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh. Vai trò của ngành thủ công mỹ nghệ đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội Theo báo cáo “Đánh giá hiện trạng khu vực phi nông nghiệp và chính sách phát triển đến năm 2010”, ngành nghẻ thủ công Việt Nam được coi là một phần của ngành nghề phi nông nghiệp. Hoạt động kinh tế của các nghề phi nông nghiệp thường diễn ra ở quy mô gia đình hoặc cá thể dưới hình thức kinh tế hộ, phường hội, hợp tác xã và cơ sở sản xuất kinh doanh, thông thường nghề phi nông nghiệp được chia thành 3 nhóm là: Sản xuất chế biến nông, thủy sản (17%), tiểu thủ công nghiệp (32,5 %), xây đựng và dịch vụ (49%).
Vai trò của ngành thủ công mỹ nghệ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội là : Tạo việc làm cho người lao động nhất là trong những ngành kinh doanh và địch vụ đối với số lao động dư đôi (khoảng 60% lao động nông nghiệp có thé tham gia sản xuất nghề thủ công nghiệp trong các làng nghề). Nâng cao mức thu nhập của người lao động. Theo kết quả điều tra của JICA (co quan hợp tác quốc tế Nhật Bản) về “Ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa nông thôn” mức thu nhập trung bình của hộ gia đình tham gia vào sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ là 905.000 đồng/tháng, và có tỷ lệ nghèo khá thấp, chỉ 3.4% tỷ lệ nghèo cả nước. Góp phan phát triển nông thôn, thúc đây quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cầu lao động theo hướng công nghiệp hoá.
Ngành thủ công mỹ nghệ đang trực tiếp đóng góp vào phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, thu hút đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng và rút ngắn sự chênh lệch giữa đô thị và nông thôn. Phân loại nghề nông thôn tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Đối với nghề truyền thống của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu , được phân thành 3 tiêu chí sau: Tiêu chí 1: Theo tính truyền thống, có 2 nhóm nghề Nghề truyền thống: Sản xuất sơn mài, sò ốc, bánh tráng, rượi, bún, đúc chuông đồng , đệt lưới. Nghề mới: chế biến thực phẩm, trồng nam, mây đan tre. Tiêu chí 2: Theo đối tượng phục vụ Nghề chế biến lương thực, thực phẩm: bánh tráng, bún, rượi, nắm,.
có yêu cầu khá cao về vệ sinh an toàn thực phẩm. Nghề thủ công mỹ nghệ: sơn mài, sò ốc, mây tre đan. Có yêu cầu về tính nghệ thuật cao Tiêu chí 3: Theo khả năng xuất khẩu Nhóm sản phẩm suất khẩu : sơn mài, sò ốc, bánh tráng, nông sản chế biến Nhóm sản phẩm nội địa : đúc chuông đồng, hàng nông sản 2. Phương pháp nghiên cứu 2.
Phương pháp xã hội học Thu thập số liêu thứ cấp. qua các báo cáo của sở nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu về điều kiện tự nhiên, tình hình dân số, các báo cáo chuyên đề về khôi phục và phát triển làng nghề truyền thông của tinh Bà Rịa Vũng Tàu giai đoạn 2006 — 2010. Thu thập số liệu sơ cấp. sử dụng bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn trực tiếp.
Vì số hộ làm mỹ nghệ sò ốc không nhiều nên đề tài đã tiến hành điều tra 75 mẫu ngẫu nhiên ở những phường có số lượng hộ sản xuất mỹ nghệ sò ốc chủ yếu ở phường 3, phường 2, phường Thắng Tam trên địa bàn của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Trong đó có 35 mẫu điều tra những hộ sản xuất mỹ nghệ cao cấp và 40 mẫu điều tra những hộ sản xuất mỹ nghệ thô (ốc gắn). Với 75 mẫu điều tra có thể phản ánh được mục tiêu của đề tài là thu thập những thông tin về hoạt động của hộ sản xuất mỹ nghệ sò ốc, thu nhập của họ cũng như những thông tin về thị trường, nguyên liệu .từ đó dùng phần mén Excel, Word, dé xử ly số liệu đánh gía hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất mỹ nghệ sò ốc và đề xuất các giải pháp hữu hiệu. Các chỉ tiêu kinh tế Hiệu qua kinh tế là việc các hộ sản xuất sử đụng hợp lý các yếu tố đầu vào như các nguồn nguyên liệu chính, các nguồn nguyên liệu phụ, nhân công lao động Xác định hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa chi phí đầu tư bỏ ra cho hoạt động sản xuất và kết quả đạt được từ sự đầu tư đó dé đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất mỹ nghệ sò ôc của hộ sản xuât tôi sử dụng các chỉ tiêu sau: Thu nhập: Thu nhập = Doanh thu — CP vật chất mua — CP lao động thuê Trong đó : Doanh thu là toàn bộ giá trị tổng sản lượng thu được trong quá trình sản xuất.
Giá trị tổng sản lượng (doanh thu) = sản lượng * đơn giá CP lao động thuê là phần thuê công nhân làm thuê được tính bằng tiền CP vật chất mua là khoản tiền mà hộ sản xuất bỏ ra để mua các yếu tế vật chất đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất.