Chương I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam Chương II. Phương pháp nghiên cứu luận văn Chương III. Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam Chương IV.
Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam giai đoạn 2017-2030 4 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và khoảng trống 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hai tác giả Lê Xuân Sang và Nguyễn Thị Thu Huyền có bài: "Chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ: Lý luận, thực tiễn và định hướng cho Việt Nam" trong đó bàn về vai trò của CNHT trong nền kinh tế, một số vấn đề lý luận và thực tiễn quốc tế và trong hoạch định chính sách thúc đẩy CNHT trên thế giới và trong nước, giới thiệu một số kinh nghiệm quốc tế (của Malaixia và Thái Lan) trong thúc đẩy CNHT phát triển, phân tích những nét cơ bản về CNHT ở Việt Nam và đề xuất một số định hướng chính sách chủ yếu để đẩy nhanh phát triển CNHT của đất nước. “Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành ô tô để đáp ứng nhu cầu của các DN lắp ráp ô tô tại Việt Nam (tập trung nghiên cứu các DN tại Nhật Bản)”, luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Huế, hướng phân tích, đánh giá mô hình phát triển, kinh nghiệm phát triển CN ô tô ở Nhật Bản, thực tiễn các công ty lắp ráp ô tô FDI ở Việt Nam, đề xuất giải pháp phát triển CNHT đáp ứng nhu cầu của các công ty lắp ráp ô tô về loại sản phẩm này.
“Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Kim Thu, nhằm làm rõ những vấn đề về CNHT, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng trong bối cảnh, điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích những cơ hội và thách thức đối với CNHT, đề xuất quan điểm và giải pháp cho phát triển CNHT trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta, trong đó chú ý giải pháp thúc đẩy chuyển giao công nghệ hiện đại cho phát triển CNHT. “Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam”, luận 5 z án tiến sĩ kinh tế của Hà Thị Hương Lan, nghiên cứu về vai trò của phát triển CNHT đối với nền kinh tế quốc dân và ngành CN, kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển CNHT trong một số ngành CN và bài học ở nước ta, phân tích thực trạng CNHT trong ngành CN xe máy, dệt may và điện tử, đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu phát triển CNHT trong một số ngành CN ở Việt Nam. Bài "Kinh nghiệm phát triển công nghiệp hỗ trợ của một số nước và hàm ý cho Việt Nam" của TS Nguyễn Thị Tường Anh, nghiên cứu kinh nghiệm phát triển CNHT, trong đó có CNHT ngành ô tô của Thái Lan, Malaysia và Nhật Bản, từ đó rút ra một số bài học tham khảo hữu ích để đưa CNHT ở nước ta phát triển trong thời gian tới. Hai tác giả Nhâm Phong Tuân, Trần Đức Hiệp nghiên cứu "Ảnh hưởng của các chính sách tới sự phát triển của ngành CNHT ô tô Việt Nam" , nội dung bài viết tập trung phân tích sự ảnh hưởng của các chính sách tới phát triển ngành CNHT ô tô của Việt Nam trong những năm qua, như nhóm chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, nhóm chính sách phát triển các DN mới, nhóm chính sách khu, cụm CN, nhóm chính sách hỗ trợ tài chính và thuế; phân tích thực trạng CNHT ngành ô tô Việt Nam, đề xuất một số giải pháp thúc đẩy phát triển hơn nữa trong thời gian tới.
Đề tài khoa học cấp bộ: “Điều tra, khảo sát khả năng sản xuất linh kiện, phụ tùng ô tô ở Việt Nam”, do Hội kỹ sư ô tô Việt Nam, Trung tâm phát triển công nghệ ô tô thực hiện, nhằm khái quát thực trạng và đề xuất các biện pháp, khuyến khích phát triển CNHT ngành ô tô ở Việt Nam. Trần Văn Hào với bài: “Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ: Nhìn từ thực trạng chính sách”, xác định rằng chiến lược phát triển ngành CNHT ở Việt Nam đã được đề ra hơn một thập kỷ qua nhưng hiện mới đang khởi động, vẫn mới chỉ qua vạch xuất phát. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát huy vai trò và tiềm năng của ngành này với việc cần làm trước tiên là bắt đầu từ chính sách tạo nguồn lực. Khoảng trống nghiên cứu Các công trình nghiên cứu phần nào đã chỉ ra thực trạng của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam, đưa ra những thực trạng, giải pháp phát triển ngành công nghiệp này.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt và hệ thống về việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ô tô ở Việt Nam. Chính vì thế tác giả nghiên cứu đề tài này là cần thiết và có tính mới. Các công trình nghiên cứu ở trên có giá trị tham khảo quý báu đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ này. Cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam 1.
Khái niệm và đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ 1. Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ Sự xuất hiện ngành CNHT. Công nghiệp hỗ trợ (Supporting industry – SI), còn được gọi là công nghiệp hỗ trợ hay công nghiệp bổ trợ. Thuật ngữ CNHT bắt đầu xuất hiện lần đầu tiên vào giữa những năm 60 thế kỷ XX (trong Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ Châu Á), phổ biến ở Nhật Bản và sau này là các nước công nghiệp trẻ ở châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, nơi mà các chi tiết sản phẩm thường được gia công ở một đơn vị sản xuất khác với nơi chế tạo, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh cuối cùng.
CNHT xuất phát ban đầu từ cách thức tổ chức sản xuất của người Nhật trong quá trình xây dựng các mắt xích chuyên môn hóa từng công đoạn sản xuất các sản phẩm và dịch vụ công nghiệp. Ở các quốc gia khác nhau, khái niệm về CNHT có những khác biệt nhất định. Một doanh nghiệp hay tập đoàn lắp ráp sản phẩm cuối cùng nắm giữ vai trò trung tâm kiểm soát và điều phối các luồng hàng hóa và thông tin giữa vô số các công ty độc lập mang tính sản 7 z xuất kinh doanh mạng toàn cầu. Các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp được cung cấp bởi các đơn vị ngoài doanh nghiệp đó hoặc là qua hệ thống tổ chức thầu phụ/vệ tinh của doanh nghiệp (subcontracting) hoặc là hướng thị trường (market – based).
Giữa các nhà sản xuất – lắp ráp với các nhà sản xuất hỗ trợ cũng hình thành nhiều quan hệ hợp tác kinh doanh có thứ bậc khác nhau. Những nhận thức khác nhau về CNHT: CNHT là khái niệm có tính tương đối, cho nên ở các quốc gia khác nhau việc hiểu và phân biệt CNHT cũng theo những phạm vi khác nhau. Thậm chí ngay trong một quốc gia cũng chưa có sự thống nhất rõ ràng. Chẳng hạn như Bộ Công nghiệp Thái Lan đưa ra khái niệm: CNHT là ngành công nghiệp phụ giúp cho việc lắp ráp các sản phẩm cuối cùng, thông qua cung cấp các bộ phận, chi tiết hoặc các sản phẩm hàng hóa/dịch vụ trung gian khác.
Theo Văn phòng phát triển CNHT Thái Lan thì CNHT được hiểu là các ngành cung cấp các linh phụ kiện, máy móc, thiết bị và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất như đóng gói, kiểm tra sản phẩm … cho các ngành công nghiệp cơ bản. Còn theo Cục Đầu tư Thái Lan (BOI), CNHT được hiểu là các ngành sản xuất các sản phẩm gia công khuôn mẫu, dập, đúc, rèn và gia công nhiệt. Trong khi đó, Bộ Năng lượng Mỹ lại cho rằng CNHT là những ngành công nghiệp cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường. Theo Bộ Công nghiệp Đài Loan: Vì sản xuất sản phẩm với tất cả các bộ phận chi tiết (sản xuất trọn gói), các công đoạn sản phẩm sẽ được chuyên môn hóa thành từng phần, và mỗi ngành công nghiệp chỉ sản xuất một phần của sản phẩm đó.
Quá trình chuyên môn hóa như vậy được hiểu là CNHT. Theo Bộ Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản (MITI), nay là Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp – METI, CNHT được hiểu là những ngành sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ tùng, hàng hóa tư bản … cho các ngành công nghiệp lắp ráp, như ô tô, điện, điện tử, đóng tàu, … 8 z Tại Việt Nam, thuật ngữ CNHT được bàn đến khá muộn so với nhiều nước, do trước đó phải chịu ảnh hưởng của cơ chế tự cung tự cấp, cơ cấu sản xuất tích hợp phổ biến theo chiều dọc trong nội bộ doanh nghiệp, mà ít có sự liên kết theo chiều ngang thông qua hợp tác với các doanh nghiệp khác. Theo GS Trần Văn Thọ, “CNHT chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm…, và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế.
Vẫn theo GS, sản phẩm CNHT thường được sản xuất với qui mô nhỏ, thực hiện bởi các DNV&N. Do đó, trong ngành ô tô chẳng hạn, các bộ phận như đầu máy xe, thân xe, bánh xe. thường không được kể là CNHT, vì chủ yếu do các công ty lớn sản xuất với qui mô lớn. Trong ngành này, CNHT là những linh kiện, những phụ liệu ở cấp thấp hơn được cung cấp để sản xuất ra đầu xe máy, thân xe.
Theo Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 22/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách phát triển một số ngành CNHT, Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Theo đó, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ bao gồm: vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm sản xuất tại Việt Nam để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Thực chất, tính chất phụ trợ, hỗ trợ thường hay bị che lấp bởi mối quan hệ trao đổi nội bộ giữa các ngành công nghiệp với nhau, vì thế sẽ có những quan niệm khác nhau về CNHT.