phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về phát triển ngành chè. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 3: Phương hướng, giải pháp phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên hiện nay. 4 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ 1.
Một số vấn đề lý luận chung 1. Khái niệm và đặc điểm ngành chè 1. Khái niệm - Khái niệm chè: Theo từ điển bách khoa Việt Nam, chè (Camellia sinensis) là cây công nghiệp nhiệt đới và cận nhiệt đới, lá dùng để pha nước uống (gọi là trà hay chè). Nguồn gốc cây chè ở rừng mưa nhiệt đới Tây Tạng và Bắc Việt Nam (ở tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang có rừng chè cổ thụ cao tới 15-20m, đường kính thân tới 1m, tán rộng 8m).
Hiện nay, chè được trồng rộng rãi ở Trung Quốc, Đông Nam Á, Ấn Độ, Srilanca, Châu Phi, Đông và Nam Âu (Gruzia), vùng Kraxnôđa (Liên bang Nga), Nam Mĩ, Ôxtrâylia và đã trở thành nước uống phổ biến trên thế giới. Chè là thức uống được dùng từ 4700 năm trước đây. Trong lá và búp chè có đường, pectin, tinh dầu, ancaloit (chủ yếu là caferin), protein và axit amin. Chè kích thích tiêu hoá và bài tiết, lợi tim mạch và hô hấp, cung cấp vitamin, phòng sâu răng, kích thích khả năng lao động.
Cây chè thường được trồng thành cây nhỡ (để dễ hái), lá mọc cách, có răng cưa. Hoa đều, lưỡng tính, màu trắng, mọc 1-3 hoa ở kẽ lá, đài và tràng xoắn ốc, có 5-7 cánh, nhị đực rất nhiều, nhị cái ba tâm bì hợp thành bầu trên với ba ô, ba vòi. Quả nang có ba ngăn, mỗi ngăn có một hạt không nội nhũ. Cây chè ưa nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 13-230C (chè Shan vùng núi cao: 15-200C, chè trung du và các chủng tương tự: 20-250C), nhiệt độ tối thấp tuyệt đối: -50C (chè Shan), 00C (chè Trung Du).
Độ ẩm không khí 85-90%, không dưới 70%. Lượng mưa 1500-2400mm/năm, 100mm/tháng, có 1-2 tháng khô hanh. Cây chè cần bóng mát nhẹ ở giai đoạn đầu. Đất trồng chè hơi chua (pH 4-6, tốt nhất 5-5,5); tầng đất dày trên 60cm, nước ngầm dưới 1m vào mùa mưa, mùn 1-2%.
5 Các giống (chủng) chè ở Việt Nam: chè Shan (chè núi, chè tuyết) trồng ở núi cao trên 600m ở Bắc Bộ, trên 1000m ở Nam Tây Nguyên. Từ chè Shan người ta chế thành chè mạn, chè xanh, chè đen chất lượng cao. Chè Trung Du trồng phổ biến ở các tỉnh: Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh… Ngoài ra, còn có các chủng: Assam, Manipur… và các chủng được chọn lọc như PH1 (của trại Phú Hộ), TB 11,14 (gốc từ Trấn Ninh, chọn lọc ở Bảo Lộc - Lâm Đồng), có thể trồng bằng hạt, ươm cây con hoặc giâm cành. Năng suất chè trưởng thành (6 năm sau khi trồng) là 1000-1200kg chè khô/1ha.
Sản lượng chè thế giới khoảng 2 triệu tấn/năm. Lá cây chè được dùng tươi hoặc sau khi chế biến để pha chế thành thức uống (nước chè). Chè tươi là lá chè được dùng nguyên hay vò cho gãy lá, rửa kỹ, nấu nước uống (nước chè tươi có màu xanh, vàng, nhiều vitamin). Chè búp khô (còn gọi là trà) được chế biến theo nhiều dạng: chè xanh, búp chè để héo, vò, sao trên chảo nóng, phơi khô (khi pha cho màu xanh, nhiều vitamin C); chè Tàu - loại chè xanh được chế biến ở Trung Quốc; Chè đen - búp chè để héo, vò, ủ lên men và sấy khô (khi pha nước có màu nâu hồng), được ưa chuộng ở Âu - Mĩ, dùng nóng với đường và chanh.
Chè hoà tan là dạng phổ biến mới, chiết chè đen hoặc chè xanh bằng nước nóng 80-880C, xúc tác bằng KMnO4 0,05%, lọc rồi cô trong chân không. Ở một số địa phương Việt Nam có chè mạn chế bằng búp chè kèm theo nhiều lá già, qua ủ men (Ví dụ: chè mạn Hà Giang). Chè hương - chè ướp hương hoa sen, nhài, mộc, ngâu… Chè nụ chế từ nụ phơi khô (nước có màu nâu). - Khái niệm ngành chè: Ngành chè là tổng thể các đơn vị kinh tế sản xuất chè, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội, không phân biệt nằm trên địa bàn lãnh thổ và thuộc cấp chính quyền quản lý.
Ngành chè được đặc trưng bởi đặc tính và công dụng của sản phẩm chè tạo ra, tính chất và đặc điểm của quá trình công nghệ, chức năng và vị trí của nó trong quá trình tái sản xuất. 6 Ngành chè bao gồm ba khâu: trồng và chăm sóc cây chè nguyên liệu, chế biến chè và tiêu thụ chè. Ba khâu trên có quan hệ nhân quả, hợp thành một hệ thống hữu cơ, hoàn chỉnh không được chia cắt đối lập nhau. Trồng và chăm sóc cây chè nguyên liệu là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan trọng nhất trong việc phát triển ngành chè.
Để khâu này đạt hiệu quả cao thì phải chọn giống chè tốt, phù hợp và áp dụng đúng kỹ thuật trồng. Giống chè tốt là giống chè có khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng cao, thích ứng mạnh với điều kiện đất trồng của địa phương. Khi có giống chè tốt thì khâu kỹ thuật phải đúng tùy thuộc vào mỗi chủng loại chè, mỗi vùng, mỗi địa phương. Chế biến chè là khâu thứ hai.
Đây là khâu quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng chè, đến hương và vị chè. Mục đích của chế biến chè là duy trì và phát huy chất lượng vốn có của lá chè, hạn chế tối đa sự tiêu hao. Nếu chế biến không tốt làm chè sản phẩm mắc khuyết tật sẽ làm giảm giá trị ban đầu của búp chè đã có; sản phẩm làm ra khó được thị trường, khách hàng chấp nhận. Chè sản phẩm và chè nguyên liệu có nhiều tính chất khác nhau.
Chế biến chè là khâu dễ gây ra khuyết tật nhất cho sản phẩm chè. Ngoài các yếu tố về đặc tính của giống chè ra, sự khác nhau này là do sự chuyển hóa các chất trong thành phần hóa học của chè trong các quá trình chế biến bằng các biện pháp công nghệ. Có nhiều yếu tố tạo ra sự chuyển hóa các chất có trong chè, nhưng hai yếu tố giữ vai trò chủ yếu là: (1) Hệ enzim có sẵn trong lá chè tươi, (2) Nhiệt và ẩm được sử dụng trong quá trình chế biến chè. Khâu cuối cùng là khâu tiêu thụ chè.
Thị trường tiêu thụ chè có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của ngành chè. Vì thế, ngành chè luôn cố gắng chăm lo cho công tác thị trường, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, củng cố mối quan hệ bạn hàng có sẵn và ra sức tìm kiếm thị trường mới. Thị trường chè được phân ra thành ba loại: Thứ nhất, loại thị trường tiêu thụ (consumption market), phần lớn trà nhập khẩu tiêu thụ tại chỗ; việc tái xuất hay tái chế biến chỉ có hạn. Thứ hai, loại thị trường kinh tiêu 7 (distribution market), chuyên kinh doanh tiêu thụ.
Thứ ba loại thị trường điều khiển (managed market), chè nhập khẩu và kinh doanh tiêu thụ đều nằm trong tay điều hành của Chính phủ hay người đại lý. Đặc điểm ngành chè Thứ nhất: Ngành chè có liên quan nhiều đền truyền thống và văn hoá, trở thành đặc trưng riêng là văn hóa chè. Uống trà trở thành truyền thống và lối sống văn hoá ở Trung Quốc hay Nhật Bản. Uống trà không chỉ hưởng thụ hương thơm, vị ngọt hay nhằm mục đích cho tỉnh táo, thải độc, chống phóng xạ như nhiều nhà khoa học đã đề cập đến, mà còn mang cả bản sắc của một dân tộc.
Ở Việt Nam, uống trà đã trở thành một loại hình nghệ thuật trong nghệ thuật ẩm thực - văn hoá trà đạo. Ở Việt Nam, trà để uống lúc sáng sớm trước khi đi làm, uống sau bữa ăn, uống khi có khách và uống vào buổi tối, ban đêm. Từ gia đình nông thôn đến thành thị, trà chiếm một vị trí trang trọng trong giao tiếp, giáo dục, lễ nghi, cưới xin, ma chay, hội hè, đình đám, thờ cúng phật giáo và tổ tiên. Trà đã đi vào văn học, nghệ thuật, là nguồn cảm hứng trong sáng tác văn thơ, hội họa, ca múa nhạc, điêu khắc, nhiếp ảnh, điện ảnh, truyền hình.
Điều đáng tiếc là đến nay, văn hóa trà Việt đang bị phôi phai trong ký ức người Việt cũ và dường như không đọng lại trong ý thức nhiều người trẻ tuổi. Trên thị trường cả ở trong và ngoài nước, những người kinh doanh chè đều chưa phản ánh được tính chất đặc sắc này. Một trong những lý do quan trọng là năng lực cạnh tranh của ngành chè Việt Nam chưa cao, các doanh nghiệp xuất khẩu còn đang mải mê giữ chỗ đứng của mình trên thị trường. Những năm gần đây tại thị trường trong nước đã xuất hiện nhiều quán trà như: Hồng trà, Dilma, trà Lipton nhưng cơ bản mang thương hiệu của nước ngoài.
Uống những loại trà này chủ yếu nhằm mục đích sử dụng nhanh, phù hợp với tác phong công nghiệp, chưa mang được nét văn hóa Việt. Điều đó có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành chè cả trên thị trường trong nước và xuất khẩu. 8 Thứ hai: Ngành chè có thời gian đầu tư kinh doanh dài hơn các ngành khác, bởi chè là cây công nghiệp dài ngày, chu trình sinh trưởng khá lâu, chu kỳ hoạt động kinh tế kéo dài. Thông thường đầu tư cho ngành chè phải trải qua các giai đoạn phát triển sinh học, từ khi trồng đến khi bắt đầu được thu hái phải mất thời gian 3 năm.
Thời gian kinh doanh có thể từ 30 đến 50 năm. Cho nên, vốn đầu tư phải phân bổ trong khoảng thời gian kéo dài và theo thời vụ của cây chè. Thêm vào đó, hiệu quả thu hoạch cây chè trong những năm đầu kinh doanh là rất thấp, chỉ được tăng dần trong thời gian sau. Thời gian để hoàn đủ vốn đầu tư xây dựng là khá lâu.
Thứ ba: Chịu nhiều rủi ro. Ngành chè phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, thiên nhiên và khí hậu. Hơn thế nữa phát triển ngành chè trong các lĩnh vực trồng trọt, cây giống, chăm sóc, cải tạo… diễn ra trong một địa bàn không gian rộng lớn, trên các vùng đồi trung du, miền núi. Điều này làm tăng tính phức tạp trong quản lý và điều hành các công việc.