CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA VIỆC DAY HỌC SỬ DỤNG BAI TẬP THỰC TIEN NHẰM PHAT TRIEN NANG LỰC VẬT LÍ CỦA HỌC SINH 1. Tông quan vân đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về năng lực Vật lí Nghiên cứu về bài tập Vật lí gắn với thực tiễn, Lê Thị Thu Hiền và Lê Hoàng Phước Hiền trình bày van đề xây dựng và sử dụng BT gắn với thực tiễn trong dạy học Vật lí thông qua phát triển năng lực vận dụng kiến thức của HS trung học phổ thông.
Bài viết đã phân loại bài tập vật lí (BTVL) theo tính chất của BT bao gồm: BT định tính; BT định lượng; BT tong hop; BT về các ứng dụng kĩ thuật vật lí; BT thí nghiệm [10]. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã phân loại BTVL dựa theo mức độ nhận thức của HS: BT tập dượt; BT sáng tạo. Bài viết cũng đưa ra các mức độ của năng lực vận dụng kiến thức vật li và thé hiện thông qua bài giảng cụ thé, tuy nhiên, bài viết chưa thể hiện được làm thế nào đo lường những tiêu chí đó đó. Một bài viết khác đưa ra quy trình thiết kế và sử dụng BTTT nhăm đáp ứng mục tiêu dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS [1].
Bài viết đã đưa ra 4 tiêu chí và các biểu hiện tương ứng với từng tiêu chí và xem các tiêu chí đó là căn cứ dé thiết kế và sử dụng các BTTT. Bài viết của tác giả Hà Thị Lan Hương [14] đề cập đến việc phát triển năng lực tìm hiểu khoa học tự nhiên cho HS THCS thông qua xây dựng BT có nội dung thực tiễn và đề xuất thang đánh giá năng lực tìm hiểu khoa học tự nhiên cho HS THCS trong dạy học các môn học lĩnh vực khoa học tự nhiên. Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu về BTTT của tác giả Lê Minh Hải [9] đã xây dựng được hệ thống BT có nội dung thực tiễn, góp phần vào nguồn tài liệu tham khảo cho GV và HS trong quá trình dạy học của bộ môn, đồng thời tác giả đã đề xuất được các biện pháp sử dụng BT nhằm tạo được sự hứng thú cho HS trong việc lĩnh hội kiến thức bộ môn. Tác giả Đặng Thị Dạ Thuỷ thông qua bài viết [29] đã đề xuất quy trình thiết kế BT nghiên cứu trường hợp trong dạy HS học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của HS.
Một nghiên cứu của Lê Văn Năm, Quách Văn Long đã chỉ ra rằng, BTTT bên cạnh việc có đầy đủ những tình huống và bối cảnh trong đời sống thực tiễn, nó còn có tính mở, có đầy đủ chức năng của một BT như phương pháp dạy học hiệu quả cao trong việc cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực cho HS giáo dục kiểm tra đánh giá [19]. Bên cạnh đó, nhóm tác giả đã 5 phân biệt có 4 loại BTTT: BTTT ở mức độ nhận biết, ở mức độ thông hiểu, ở mức độ vận dụng, vận dụng cao và đề xuất 2 biện pháp sử dụng BT TT. Tác giả Doan Thành Ninh [23] đã hệ thống BT và phân loại thành 05 dạng BT, với mỗi dạng đều có bai mẫu và các BT dé HS tự giải, một số BT được lựa chon và cụ thé hoá thông qua thiết kế 02 kịch bản dạy học để cho quá trình thực nghiệm sư phạm. Tác giả Đào Việt Hùng đã xây dựng hệ thống các dạng BT có khả năng ứng dụng trong thực tiễn liên quan đến một số kiến thức chuyên ngành Hoá học mà người học có thé tiếp cận ngay sau khi kết thúc hoc phan qua đó người học có thé áp dụng các kiến thức đã học dé vận dụng, giải quyết các van đề thực tiễn, góp phần hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho người học [12].
Những nghiên cứu về dạy học phát triển năng lực Vật lí Xuất phát từ mục đích dạy học vật lí của ngành giáo dục là phải bồi dưỡng năng vật lí cho HS dé hướng tới mục đích biến quá trình dao tạo thành quá trình tự tìm tòi khám phá thông quá việc nghiên cứu các hiện tượng trong cuộc sống mà người học chiếm lĩnh tri thức, tác giả Phùng Thị Thuỳ Linh [15] đã nghiên cứu về các hình thức tô chức và phương pháp day học dé xây dựng được quy trình hướng dẫn hoạt động học của HS nhằm bồi dãỡng năng lực Vật lí của HS thông qua phương pháp dạy học chủ đề “Các định luật bảo toàn trong chuyền động cơ”, thông qua kết quả điều tra về việc học vật lí của HS ở trường phổ thông cho thấy HS THPT hiện này dang rất cần thay đổi các hướng tiếp cận kiến thức và tổ chức các hoạt động nhằm bồi dưỡng năng lực Vật lí. Tác giả đã thiết kế và xây dựng theo định hướng bồi dưỡng năng lực vật lí chương “Các định luật bảo toàn”, kế thừa và phát huy những ưu điểm của dạy học truyền thống kết hợp với những ưu việt của dạy học nhằm bồi dưỡng năng lực vật lí dé phat huy tinh than tự lực của HS trong quá trình học tập, rèn luyện cho HS tính chủ động, sáng tạo trong việc tiếp cận và bồi dưỡng năng lực vật lí cũng như các vấn đề trong thực tiễn. HS nhận thức được vấn đề học tập thông qua các tình huống có thực trong thực tế hoặc các thí nghiệm. Quá trình bồi dưỡng năng lực vật lí của HS được định hướng băng những câu hỏi vừa sức, đảm bảo cho quá trình tư duy nhận thức tự lực của HS.Với các tiễn trình dạy học chúng tôi đã xây dựngở trên, khi vận dụng vào thực tiễn dạy học chắc chắn sẽ phát huy được tỉnh thần tự lực của HS trong quá trình học tập.
Kết quả là HS trở 6 thành những con người năng động, sáng tạo, trong việc giải quyết các vẫn đề thực tiễn cũng như các vấn đề mới trong học tập. Sử dụng BTTT trong dạy học giúp bồi dưỡng, phát trién các năng lực cho HS. Việc đánh giá BTTT cần đảm bảo các tiêu chí nhất định, [15] đã đề xuất quy trình đánh giá BTTT phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Nghiên cứu của [23] đã làm sáng tỏ hàn Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giảng dạy BTVL ở trường THPT cũng như đi sâu tìm hiểu về năng lực chung và năng lực chuyên biệt, đặc biệt là năng lực vật lí của HS.
Tác giả đã tìm hiểu thực trạng việc dạy và học BTVL ở trường phô thông, đồng thời biên soạn được một hệ thống BT trong chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí 10 nhằm phát triển các nhóm năng lực liên quan đến kiến thức vật lí, nhóm năng lực phương pháp, nhóm năng lực trao đổi thông tin và nhóm năng lực liên quan đến cá nhân. Trong một nghiên cứu khác, tác giả Bùi Thị Thoa [28] đã tìm hiểu thực trạng dạy và học theo hướng phát triển năng lực Vật lí tại trường phô thông, thông qua phân tích chương “Hạt nhân nguyên tử”, Vật lí 12, tac gia đã soạn thảo được tiễn trình dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” theo hướng phát triển năng lực Vật lí của HS trong mỗi hoạt động của tiết học có đưa ra tiêu chí đánh giá theo các mức độ. Tác giả Nguyễn Phương Anh [1] đã thiết kế hoạt động học va phat triển năng lực vật lí của HS, HS được tham gia các hoạt động học tập dựa trên van dé, học tập dựa trên nhiệm vu, học tập tìm tòi và khám phá. Các nghiên cứu về học sinh trung tâm giáo dục thường xuyên Với đặc thù là HS có mức học lực không cao, các nghiên cứu của các tác giả trong nước còn khá khiêm tốn.
Tuy nhiên, nhóm tác giả [26] đã nghiên cứu trên đối tượng người học là HS hệ giáo dục thường xuyên thuộc tỉnh Trà Vinh nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học môn Sinh học của HS trên địa bàn. Bài viết đã chỉ ra các mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng va vận dụng cao cụ thể cho từng nội dung của bài học. Kết quả của nghiên cứu đã giúp phát triển các năng lực đặc thù: Năng lực nhận thức, năng lực tìm hiểu thế giới song; nang luc van dụng kiến thức, kĩ năng đã hoc cho HS hệ giáo dục thường xuyên tỉnh Trà Vinh tiếp cận với nghề nghiệp và thực tiễn cuộc sống. Tác giả Vũ Thị Thanh Vân [32] đã nghiên cứu hệ thống quan điểm lí luận về dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS để thiết kế phương án dạy học 7 chương “Sóng ánh sáng” Vật lí 12 nhằm phát huy tích cực tự chủ chiếm lĩnh kiến thức, năng lực học tập hợp tác của HS ở Trung tâm giáo dục thường xuyên.
Bên cạnh việc nghiên cứu quan điểm hợp tác, năng lực học tập hợp tác, dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực học tập hợp tác thì tác giả đã tô chức dạy học sao cho phát huy được tính tích cực tự chủ chiếm lĩnh kiến thức và bồi dưỡng năng lực học tập hợp tác của HS khối giáo dục thường xuyên. Đặc biệt, tác giả đã nghiên cứu sâu Cơ sở lí luận của hai hình thức t6 chức dạy là mô hình Peer Instruction và dạy học theo hướng tô chức hoạt động nhóm học nhằm bồi dưỡng năng lực học tập hợp tác của HS giáo dục thường xuyên được sử dụng để thiết kế phương án dạy học chương Sóng ánh sáng (Vật lí 12). Tác giả Vũ Thị Mỹ Hoa đã nghiên cứu sâu Cơ sở lí luận về kĩ năng thảo luận nhóm, xây dựng một số tình huống dạy học dựa trên các nội dung dạy học nhằm nâng cao kĩ năng thảo luận nhóm cho đối tượng HS giáo dục thường xuyên [11]. Dạy học phát triển năng lực vật lí của học sinh 1.
Năng lực Nhiều tác giả của trong và ngoài nước bàn luận, đánh giá ở nhiều góc độ và quan điểm khác nhau về năng lực. Theo quan điểm của Triết học thì “Năng lực của con người là sản phầm của sự phát triển xã hội, năng lực không những do hoạt động của não bộ quyết định mà trước hết là do trình độ phát triển của lịch sử mà loài người đã dat được” [22]. Có nghĩa là NL của con người không thé tách rời với tô chức lao động xã hội và với hệ thống giáo dục tương ứng với tổ chức đó.