CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1. Quan niệm về năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học Lịch sử 1. Quan niệm về năng lực Năng lực là khái niệm được đề cập lần đầu tiên vào năm 1959 bởi R. Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực.
Từ điển tiếng Việt đã định nghĩa về NL: “ là khả năng, là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” Theo tác giả Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Mạnh Hưởng: “NL là khả năng làm chủ các hệ thống kiến thức, kĩ năng - kĩ xảo, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống” [49,tr. Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [8,tr.36] Trong giáo trình Kiểm tra, đánh giá trong giáo dục, tác giả Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh cho rằng “Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ. phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả các vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống” [ 28, tr.
111] 11 z Nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực Giáo dục học, Xã hội học, Kinh tế học. đã nghiên cứu để cố gắng thảo luận tìm định nghĩa thống nhất. Nhiều nhà nghiên cứu đã định nghĩa NL là sự tích hợp sâu sắc của kiến thức - kĩ năng - thái độ làm nên khả năng thực hiện một công việc chuyên môn, được thể hiện thông qua một môi trường cụ thể. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu, năng lực luôn gắn với khả năng thực hiện, nghĩa là các cá nhân trên cơ sở những kĩ năng - kĩ xảo học được hoặc có sẵn, phải biết vận dụng chúng một cách linh hoạt để giải quyết các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra.
Trong quá trình DH ở trường phổ thông, để nhận biết và đánh giá đúng NLcủa HS thì GV phải dựa vào sự hội tụ ba yếu tố cơ bản: Kiến thức, kĩ năng - kĩ xảo và thái độ. Kiến thức là những hiểu biết được thu nhận từ sách vở, học hỏi, kinh nghiệm của cuộc sống. Kĩ năng là việc vận dụng bước đầu kiến thức thu lượm vào thực tế. Kĩ xảo là khả năng lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục.
Giữa NL, kiến thức, KN, kĩ xảo có mối quan hệ mật thiết với nhau. Kiến thức, KN, kĩ xảo là điều kiện để hình thành NL song không đồng nhất với NL. Ngược lại, NL góp phần quan trọng cho quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong hoạt động được hiệu quả hơn. Có NL tức là có kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực đó nhưng có kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo không có nghĩa là có NL đó.
Như vậy, không có NL nào là vạn năng, duy nhất thay thế cho tất cả các NL khác mà mỗi NL chỉ có thể thực hiện một nhiệm vụ nào đó của thực tiễn đặt ra. Việc hình thành và phát triển NL được diễn ra theo hình xoáy trôn ốc, các năng lực đã có là cơ sở , nền tảng để kiến tạo kiến thức mới từ đó phát triển những năng lực mới trên cơ sở những kiến thức mới vừa hình thành. 12 z Cơ sở hình thành và phát triển của năng lực : - NL của con người không phải do bẩm sinh sẳn có mà mmang bản chất lịch sử xã hội, mỗi người tự hình thành NL khác nhau. NL hình thành trong môi trường xã hội nhất định nhưng không phải môi trường nào cũng sinh ra NL ấy.
- “NL vừa là tiền đề vừa là sản phẩm phân công lao động”- Các Mac. - NL của mỗi người phát triển không giống nhau mà nó phụ thuộc vào điều kiện cụ thể về kinh tế và xã hội , môi trường mà cá nhân đó sinh sống. - Để có thể hình thành và phát triển NL ở người học cần phải tổ chức cho người học có điều kiện tiếp xúc với tri thức, với thế giới đối tượng để có thể biến những NL của người khác thành NL của chính mình. NL của con người được hình thành và phát triển dưới điều kiện của DH và giáo dục.
Đặc điểm cơ bản của năng lực : - Năng lực là tổ hợp thuộc tính độc đáo của cá nhân: Tổ hợp các thuộc tính cá nhân là sự tương tác chặt chẽ , logic giữa các thuộc tính trở thành một thể thống nhất, một cấu trúc cụ thể chứ không phải là sự cộng lại một cách đơn thuần của các thuộc tính đơn lẻ. Nó bao gồm những thuộc tính tương ứng với những đòi hỏi của một hoạt động phù hợp tương ứng và phải làm cho hoạt động đó đạt kết quả. Tuy nhiên tổ hợp thuộc tính không phải là những thuộc tính tâm lí,sinh lí nói chung. - Năng lực chưa thể xuất hiện khi con người chưa hoạt động.
NL lúc đó vẫn còn ở dạng tiềm ẩn. Ngược lại, khi con người hoạt động năng lực sẽ xuất hiện. Năng lực chỉ có thể xuất hiện khi cá nhân hoạt động và năng lực sẽ phát triển NL tương ứng trong hoạt động đó. - Thước đo để đánh giá năng lực của cá nhân chính là kết quả trong công việc mà cá nhân đó đã thực hiện.
13 z Tuy nhiên, NL của con người không phải bẩm sinh hay năng khiếu sẵn có mà nó được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và giao tiếp. Cấu trúc của NL gồm 3 thành tố : - Thành tố 1: Hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng để tạo ra NL tương ứng với hoạt động. - Thành tố 2: Nguồn gốc động cơ hứng thú, mục đích hoạt động. - Thành tố 3: Hành động là cơ sở cần thiết để có thể hình thành NL.
Mối quan hệ giữa NL với các yếu tố khác Năng lực có liên quan với các yếu tố khác trong nhân cách như: - Năng lực và tư chất: Tư chất là nét đặc trưng riêng của mỗi người, là sự khác biệt giữa người này với người khác. Tư chất hình thành trên cơ sở tổng hòa của các yếu tố não bộ, hệ thần kinh của mỗi cá nhân. Tư chất là 1 trong những điều kiện hình thành năng lực nhưng tư chất không quy định trước sự phát triển của năng lực. Tư chất là cơ sở vật chất của sự phát triển năng lực, trên cơ sở đó con người hình thành các năng lực khác nhau.
Tư chất chính là tiền đề để hình thành năng lực của mỗi cá nhân trong những môi trường xã hội phù hợp. Ví dụ: Cùng kiểu hệ thần kinh yếu nhưng người này hình thành năng lực kỹ thuật, người kia hình thành năng lực văn học. - Năng lực và thiên hướng: Thiên hướng là khuynh hướng của một cá nhân đối với một hoạt động nào đó. Thiên hướng về một hoạt động nào đó và những hoạt động ấy ăn khớp với nhau và cùng phát triển với nhau sẽ tạo ra năng lực.
Thiên hướng nổi trội của cá nhân với một hoạt động nào đó có thể coi là dấu hiệu năng lực đang hình thành. - Năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo: Năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo không đồng nhất với nhau mà có quan hệ biện chứng với nhau. Tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong một lĩnh vực nhất định là tiền đề cần thiết để có năng lực trong lĩnh vực tương ứng. Ngược lại năng lực góp phần làm cho việc tiếp 14 z thu tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với lĩnh vực của năng lực đó được dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Dựa vào các tiêu chí khác nhau, chúng ta có thể phân chia thành các loại năng lực khác nhau: - Dựa trên mức độ chuyên biệt của năng lực các nhà nghiên cứu phân thành hai loại như sau: + Năng lực chung: là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động như hoạt động về thể lực và trí lực (quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ,. Năng lực chung là điều kiện cần giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động hiệu quả. + Năng lực riêng (năng lực chuyên biệt, chuyên môn) là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao như năng lực toán học, văn học, hội họa, âm nhạc, thể thao… Hai loại năng lực này bổ sung hỗ trợ cho nhau. - Dựa vào nguồn gốc phát sinh, phân chia năng lực thành hai loại: + Năng lực tự nhiên: là loại năng lực có sẵn và có quan hệ trực tiếp với tư chất.
Năng lực này được di truyền qua gen, ví dụ như năng lực phản ứng, thích ứng với điều kiện mới. Tuy nhiên, năng lực này có bị tác động, biến đổi của môi trường và giáo dục. + Năng lực xã hội: bao gồm có năng lực ngôn ngữ, năng lực lao động sáng tạo, năng lực giao tiếp,. Năng lực xã hội được hình thành và phát triển trong quá trình sống và hoạt động của mỗi cá nhân, nhờ đó chúng ta hiểu và cải tạo được thế giới.
- Dựa vào các mức độ phát triển của năng lực, người ta phân chia năng lực thành hai loại: 15 z + Năng lực học tập, nghiên cứu: là năng lực liên quan đến việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo v. đã có sẵn trong nền văn hóa xã hội. Các năng lực học tập này có thể là năng lực chú ý, phân tích, tổng hợp, so sánh v. + Năng lực sáng tạo: để tạo ra được một sản phẩm mới, tri thức mới và phương thức hoạt động mới cho xã hội, người ta cần sử dụng năng lực sáng tạo.
Đây là năng lực đỉnh cao giúp con người có thể hiểu và chinh phục thế giới. Việc phân chia năng lực này chỉ mang tính tương đối, trên thực tế các năng lực này luôn gắn liền, đan xen và tác động qua lại với nhau.