CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH. Năng lực tự học. Khái niệm tự học Theo Nguyễn Tự Cường: Tự học là quá trình học tập, nhận thức không trực tiếp có người dạy, là quá trình tự nỗ lực tiếp thu của bản thân để đạt được mục tiêu học tập đề ra [4] Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình. [23] Tự học là tình huống trong đó người học chịu trách nhiệm hoàn toàn về mọi quyết định liên quan đến quyết định học và thực hiện quyết định đó.
[24] Theo Nguyễn Cảnh Toàn, tự học là tự mình suy nghĩ sử dụng trí tuệ, kỹ năng quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp. và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất, động cơ, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó thành sở hữu của mình. Học, cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong con người mình. [17] Theo từ điển Giáo dục học: Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo.
[19] Theo Nguyễn Hiến Lê: tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Có thầy hay không, ta không cần biết. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng.[11] Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một số lĩnh vực khoa học nhất định.[12] Từ những quan điểm trên, tôi rút ra được khái niệm tự học như sau: Tự học là sự chủ động, tích cực, độc lập tìm hiểu, lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng cho mình. Quá trình này yêu cầu mỗi người phải tự mình quan sát, học hỏi và tổng kết lại kiến thức cho bản thân.
Tự học là tự bản thân mình nghiên cứu, tìm tòi các kiến thức cần thiết để phục vụ cho nội dung học. Tư học sẽ giúp người học hình thành sự tự giác, chủ động và sáng tạo trong quá trình hình thành kiến thức mới. Người học có quyền tự lựa chọn kiến thức, cách học, phương pháp học, thời gian học theo ý của mỗi người, do đó người học hoàn toàn chủ động về mọi mặt. Khái niệm năng lực tự học.
Năng lực Có rất nhiều khái niệm khác nhau về năng lực. Theo sách “Gốc và nghĩa từ Việt thông dụng”: Năng lực là một từ Hán – Việt, trong đó “năng là làm được việc; lực là sức mạnh; năng lực là sức mạnh làm được việc nào đó” [14] Theo tác giả Nguyễn Văn Cường, năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Theo chương trình giáo dục phổ thông của New Zealand nêu như sau: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” Trong chương trình giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004 nói rõ: “năng lực có thể dịnh nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những nguồn lực này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn lực bên ngoài, chẳng hạn như ban cùng lớp, thầy giáo, cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác.
[15] Trần Khánh Đức nêu rõ: năng lực là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kĩ năng, thái độ, thể lực, niềm tin…) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp” [7] Năng lực là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sang của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp. [25] Trong luận văn này, tôi lựa chọn định nghĩa về năng lực dựa trên chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể của Việt Nam: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [2] làm cơ sở lý luận cho luận văn này. Năng lực tự học: 8 Theo Lê Công Triêm, năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao. [3] Năng lực tự học là khả năng tự suy nghĩ, hoạt động dựa trên sự phối hợp giữa kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học để thực hiện có hiệu quả các hoạt động học tập.
Như vậy, năng lực tự học là khả năng xác định được nhiệm cụ học tập một cách tự giác, chủ động; tự mình tìm kiếm, thu thập và xử lí thông tin; điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua hoạt động tự đánh giá hoặc lời góp ý từ giáo viên, bạn bè; và tự vận dụng những kiến thức vào giải quyết các vấn đề, tình huống học tập cũng như trong thực tiễn một cách hiệu quả. Cấu trúc và các chỉ số hành vi của năng lực tự học. Theo Taylor khi nghiên cứu về vấn đề tự học của học sinh trong trường phổ thông đã xác định tự học gồm 3 thành tố: Thái độ tự học, tính cách khi tự học và kĩ năng tự học. Quan điểm trên có thể biểu diễn ở sơ đồ dưới đây: Sơ đồ 1.
Sơ đồ thành tố tự học [26] 9 Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực tự học cũng được xác định theo cách này, thông qua các biểu hiện về thái độ, tính cách kĩ năng tự học như sau [1]: - Về Thái độ: Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân; sẵn sang đón nhận và quyết tâm vượt qua thử thách trong học tập và đời sống. - Về tính cách khi học: Xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế; Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập. - Về kĩ năng tự học: Hình thành cách học riêng; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọnđược nguồn tài liệu phù hợp; tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót của bản thân. Từ đó, có thể đưa ra bảng cấu trúc năng lực tự học như sau: [13], [6] Bảng 1.
Bảng cấu trúc năng lực tự học Thành tố Các chỉ số Mức độ biểu hiện hành vi 1. Xác M1: Trình bày được kiến thức, kĩ năng cần học do XĐ. Xác định nội giáo viên xác định định động dung cần M2: Tự xác định được kiến thức, kĩ năng cần học. cơ, mục học M3: Tự xác định được hệ thống kiến thức, kĩ năng cần đích học học.
Xác M1: Trình bày được một vài kiến thức, kĩ năng liên định kiến quan đã có, đã biết dưới sự gợi ý của giáo viên hoặc thức, kĩ tài liệu. Tự xác định hầu hết kiến thức, kĩ năng liên quan quan đã có, đã có, đã biết. M3: Tự xác định toàn bộ kiến thức kĩ năng liên quan đã có, đã biết. Xác M1: Trình bày được một số phong cách học tập.
lập định phong M2: Trình bày được một số thao tác học tập của các kế hoạch cách học của phong cách khác. M3: Chỉ ra được các thao tác học tập phù hợp với phong cách học tập của mình LK2. Lựa M1: Nêu được tên các phương pháp học tập. chọn M2: Nêu được cách thức thực hiện các phương pháp 10 phương học tập.
pháp học M3: Xác định được phương pháp học tập phù hợp với tập. nội dung học. Lập M1: xây dựng thời gian biểu học tập sơ sài, thời gian thời gian quá dài hoặc quá ngắn. biểu tự học M2: thời gian biểu học tập chi tiết, thời gian quá dài hoặc quá ngắn.
M3: thời gian biểu học tập chi tiết, khoa học, cụ thể, phân bổ thời gian hợp lí. Thực việc với tài - Liệt kê các tài liệu tham khảo có liên quan đến hiện kế liệu bài học. hoạch - Tóm tắt được thông tin trong tài liệu thu nhận học tập được. - Vận dụng các thông tin thu được dưới sự hướng dẫn chi tiết của giáo viên.
M2: - Liệt kê tài liệu hay, nguồn thông tin hữu ích, có giá trị. - Hệ thống thông tin trong tài liệu dưới hình thức bảng biểu, ngắn gọn, xúc tích. M3: - Liệt kê và lựa chọn được nguồn tài liệu hay, nguồn thông tin hữu ích, đáng tin cậy, có giá trị. - Hệ thống thông tin trong tài liệu dưới dạng bản đồ tư duy, có sự phân tích đánh giá các nguồn thông tin.
- Tự lực vận dụng các thông tin thu được để giải quyết vấn đề một cách chính xác. Làm M1: Đợi giáo viên hướng dẫn, giới thiệu người hỗ trợ việc với việc học người hỗ M2: Chủ động tìm người hỗ trợ trợ. M3: Tự tìm người hỗ trợ phù hợp với nội dung tự học. Rèn M1: Sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho việc học theo luyện trên sự hướng dẫn của giáo viên.
11 đối tượng M2: Tự sử dụng một vài phương tiện phục vụ việc vật chất học. M3: Tự sử dụng các phương tiện (thiết bị, sách, CD, DVD, học liệu E-learning…) phục vụ việc học. Đánh M1: Thực hiện được hầu hết các bài kiểm tra do giáo ĐG. giá được kết viên giao cho và tự đối chiếu kết quả.