CHƯƠNG 1. NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ TỰ HỌC, NĂNG LỰC TỰ HỌC VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các kết quả nghiên cứu trên thế giới về tự học và năng lực tự học Trên thế giới, các nghiên cứu về TH rất phong phú, đa dạng và diễn ra trong nhiều năm.
Có nhiều thuật ngữ tiếng Anh được sử dụng để chỉ TH như self-teaching, self- directed learning, self-regulated learning, independent learning, self-instruction, self- study. Các công trình nghiên cứu về TH có thể được chia thành ba nhóm chính bao gồm: nhóm nghiên cứu lý thuyết tổng quan về TH và NLTH, nhóm nghiên cứu về khung đánh giá NLTH và nhóm nghiên cứu về vai trò của Công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông trong TH. Phần tiếp theo đây sẽ trình bày chi tiết các nghiên cứu trong từng nhóm này. a) Nhóm nghiên cứu lý thuyết tổng quan về tự học và năng lực tự học Nghiên cứu chính thức đầu tiên ra đời năm 1967 định nghĩa thuật ngữ Self- teaching là “người học tự coi mình là người thầy của bản thân, không cần sự hướng dẫn, trợ giúp từ người khác” - Tough A.
Định nghĩa của Tough A.M ngắn gọn và tổng quát. Tuy nhiên, nó không có nhiều giá trị vận dụng vì không nêu rõ các khía cạnh cụ thể của TH, làm cơ sở cho việc phát triển kĩ năng TH của người học. Vì vậy, đưa ra một định nghĩa về TH vừa tổng quát vừa có tính ứng dụng cao là một yêu cầu rất cần thiết và cũng là một thách thức đối với các nhà nghiên cứu giáo dục. Tám năm sau, định nghĩa hoàn chỉnh về TH thỏa mãn được yêu cầu trên đã ra đời, xác định "Tự học (Self-directed learning) mô tả một quá trình trong đó các cá nhân chủ động cùng với việc có hoặc không có sự giúp đỡ của người khác, trong việc xác định nhu cầu học tập của họ, xây dựng mục tiêu học tập, xác định nguồn nhân lực và vật lực để học tập, lựa chọn và thực hiện các chiến lược học tập và đánh giá kết quả học tập một cách phù hợp” - Knowles M.
Định nghĩa này đã bao gồm đầy đủ các thành tố cần thiết của TH và đã trở thành điểm khởi đầu cho các định nghĩa khác về TH được đưa ra sau này. Có thể nói rằng nhiều định nghĩa khác về TH 7 sau này đều dựa trên định nghĩa của ông và luôn cố gắng phủ đầy đủ các thành tố của TH được đưa ra trong định nghĩa của Knowles M. Mở rộng thêm định nghĩa của Knowles M.S, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về TH như: - Self-regulated learning là mức độ mà mỗi cá nhân chủ động sử dụng siêu nhận thức, động lực và hành vi của bản thân trong quá trình học tập của riêng họ - Zimmerman B. Điều này có nghĩa là mỗi người học tự thiết lập mục tiêu học tập hiệu quả cho bản thân, sử dụng các chiến lược học tập để đạt được mục tiêu đó và theo dõi sự học tập đó một cách chặt chẽ.
Định nghĩa của Zimmerman B.J hoàn toàn thống nhất với định nghĩa của Knowles M. Tác giả đã gộp các thành tố của TH thành “siêu nhận thức”. - Independent learning là việc học mà người học, kết hợp với những yếu tố khác có liên quan, có thể đưa ra các quyết định cần thiết để đáp ứng được nhu cầu học tập của bản thân - Kesten C[4]. Rõ ràng Kesten C đã lựa chọn cách định nghĩa ngắn gọn nhưng chỉ nhấn mạnh vào thành tố “chiến lược học tập” mà không chú trọng hết các thành tố khác của TH.
- Self-instruction là một thuật ngữ nói chung cho các tình huống mà người học hoạt động không có sự kiểm soát trực tiếp từ GV - Dickinson L [5]. Định nghĩa này của Dickinson L có xu hướng chịu ảnh hưởng cách định nghĩa ngắn gọn của Tough A.M nên nó có ít giá trị vận dụng. - Self-direction xét theo quá trình thì có thể hiểu là tiến trình hướng dẫn người học tự kiểm soát và tự động hóa - Candy P. “Tự kiểm soát” được sử dụng để mô tả TH diễn ra với sự hướng dẫn của GV trong phạm vi nhà trường và “tự động hóa” mô tả TH được diễn ra bên ngoài trường học.
Xét theo thuộc tính, TH được hiểu là tự quản lý và tự chủ cá nhân. Tự quản lí được mô tả là khả năng tự định hướng việc học tập trong những điều kiện nhất định; tự chủ cá nhân thể hiện xu hướng tự do học tập trên quy mô rộng hơn.C đã lựa chọn một hướng mới (so với các định nghĩa đã có trước đây) khi định nghĩa TH. Tác giả nhìn nhận TH dưới hai góc độ khác nhau (theo quá trình và theo thuộc tính). Có lẽ riêng góc độ thứ hai mới chỉ 8 ra các thành tố cụ thể của TH (các từ được viết đậm) và chúng thiên về thành tố “chiến lược học tập” của TH.
- Self-directed learning được định nghĩa là một cách tiếp cận mà người học được thúc đẩy để chịu trách nhiệm cá nhân và kiểm soát hợp tác các quá trình nhận thức (tự giám sát) và bối cảnh (tự quản lý) trong việc xây dựng và xác nhận kết quả học tập có ý nghĩa và có giá trị - Garrison D. Định nghĩa của Garrison D.R có xu hướng tập trung vào thành tố “tự đánh giá” của TH. Mặc dù có nhiều khác biệt trong các định nghĩa về TH, tuy nhiên điểm chung của các định nghĩa là đều đề cập đến các thành tố của TH gồm: tự quản lý quá trình học tập bằng cách tự định hướng mục tiêu, lựa chọn nhiệm vụ học tập, sử dụng chiến lược học tập, khai thác nguồn lực học tập và tự đánh giá kết quả học tập. Từ năm 2000 trở đi không có thuật ngữ mới được đưa ra cho TH theo nghiên cứu của Xiaoyan Ma [8].
Các nghiên cứu sau đó thường sử dụng hai thuật ngữ phổ biến là "self-directed learning" (SDL - học tập tự định hướng) và "self-regulated learning" (SRL - học tập tự điều chỉnh) để kế thừa khái niệm về TH. Sự khác biệt giữa SRL và SDL là SRL tập trung vào các quy trình mà người học có thể thực hiện để quản lý việc đạt được các mục tiêu học tập, trong khi SDL xem xét cả các ảnh hưởng theo ngữ cảnh đối với việc tự quản lý và giám sát việc học tập của HS [9]. Tuy nhiên nhiều tài liệu sử dụng hai thuật ngữ này như là từ đồng nghĩa (Loeng S [10]). Để phân biệt, trong SDL, nhiệm vụ học tập luôn do người học xác định.
Một người học tự định hướng sẽ có thể xác định những gì cần được học. Trong khi đối với SRL, nhiệm vụ học tập có thể được tạo bởi GV. Theo nghĩa này, SDL có thể bao gồm SRL nhưng ngược lại thì không. Những nghiên cứu trên đã cung cấp nền tảng cho chúng tôi để lựa chọn định nghĩa về TH phù hợp với nghiên cứu trong luận án này.
Bàn về các khía cạnh khác trong nghiên cứu các vấn đề về TH, nghiên cứu của Taylor B [11] với tựa đề "Self-directed Learning: Revisiting an idea most appropriate for middle school students" đã chỉ ra rằng những người có NLTH có động cơ học tập bền bỉ, độc lập, kỷ luật, biết xác định mục tiêu và có các kĩ năng học tập phù hợp. 9 Tuy nhiên, theo Kerka S [12], không cần thiết phải có một định nghĩa duy nhất về TH, bởi vì dù nghiên cứu hay thực hành, học cá nhân hay theo nhóm, mỗi người học sẽ có phương pháp và NL học tập riêng biệt. Trong báo cáo tổng hợp của Meyer S và cộng sự [13] về các nghiên cứu về TH, các tác giả đã chỉ ra rằng có những yếu tố ảnh hưởng đến TH, bao gồm cả yếu tố bên trong và bên ngoài, trong đó yếu tố bên ngoài được thừa kế từ nghiên cứu của MacBeath [14]. Với các nghiên cứu lý thuyết về TH, Xiaoyan Ma (2017) [8] đã tìm hiểu các công trình về TH trong lịch sử và nhận thấy rằng TH là một quá trình tương tác giữa cá nhân và môi trường học tập và là tiến trình nhận thức.
Việc định nghĩa về TH có ba khía cạnh cần xem xét, bao gồm: (1) Người học có mục tiêu và kế hoạch học tập hợp lý; (2) Người học có khả năng thực hiện một dự án TH; và (3) Người học kiên trì trong quá trình học tập. Mô hình TH gồm ba giai đoạn: lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá. Mặc dù nghiên cứu của Xiaoyan Ma rất có giá trị về mặt lí luận, nhưng nghiên cứu này không đề cập đến các biện pháp cụ thể để HS TH hay GV có thể hỗ trợ HS TH. Sau nghiên cứu của Xiaoyan, nghiên cứu của Loeng S (2020) [10] đã tiếp tục tập trung vào các yếu tố cốt lõi của TH bao gồm định nghĩa của TH, lý do vì sao cần TH và các yếu tố ảnh hưởng đến TH.
Nghiên cứu này cũng xem xét tác động của phong cách học tập đến TH, đây là một trong số ít các nghiên cứu về chủ đề này, kèm theo các nghiên cứu của Adenuga B [15], Canipe J [16]. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ tập trung vào cách phân loại phong cách học tập của Kolb D [17] mà không xem xét đến các cách phân loại phong cách học tập khác. Áp dụng nghiên cứu lý thuyết tổng quan về TH và NLTH ở một số môn học cụ thể, tại một số quốc gia cụ thể cũng có kết quả nhất định. Ví dụ như NL tự chủ và TH là hai yếu tố quan trọng nhất đối với việc HS ở Tây Ban Nha đạt được thành tích Toán học cao [18].
Nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng sự khác biệt về động lực học tập giữa các HS có thể dẫn đến sự khác biệt về thành tích toán học. Hoặc nghiên cứu của Qi X [19] trên HS trung học ở Thượng Hải đã cho thấy rằng NLTH có ảnh hưởng tích cực đến kĩ năng đọc của HS trong môn Ngữ văn. 10 Việc tổng hợp, so sánh và đối chiếu các công trình nghiên cứu trên đã giúp hình thành một khung lý thuyết về TH cho luận án và làm nền tảng cho việc phát triển các biện pháp giảng dạy Tin học theo hướng phát triển NLTH cho HS. b) Nhóm nghiên cứu về khung đánh giá NLTH Các nghiên cứu đánh giá NLTH thường tập trung vào một tiêu chí đánh giá và mô tả nó thông qua các biểu hiện của TH.
Thuật ngữ “độ sẵn sàng cho việc TH” được giới thiệu bởi Gulglemino [20] và đã trở thành nền tảng cho nhiều nghiên cứu khác nhằm đánh giá NLTH của HS.