CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực, năng lực tự học 1. Khái niệm năng lực “Năng lực” là một khái niệm hình thành và nghiên cứu từ rất sớm. Theo tác giả Denyse Tremblay: “năng lực là khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống” [31].Weiner [36], năng lực là các kĩ năng, kĩ xảo sẵn có hoặc hình thành qua quá trình rèn luyện nhằm giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
Như vậy, năng lực mang tính cá nhân, là khả năng xử lí, giải quyết các tình huống cụ thể bằng cách sử dụng tất cả các cảm xúc, kiến thức, kĩ năng sẵn có của con người. Ở Việt Nam, khái niệm “năng lực” được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khoa học. Theo tác giả Đặng Thành Hưng, năng lực được hiểu là “thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [7]. Theo tác giả Hoàng Hòa Bình, năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [3].
Theo tác giả Bùi Thị Hường, năng lực là khả năng biến tri thức thành hành động, dùng tri thức vốn có để xử lí, giải quyết các vấn đề trong cuộc sống [8]. Tác giả đồng ý với quan điểm năng lực trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [1] “năng lực là khả năng thực hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ vào sự huy động sức mạnh tổng hợp của kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như cảm hứng, niềm tin, ý chí”. Đặc điểm của năng lực 7 Theo tác giả Đặng Thị Thu Huệ [6] thì năng lực có một số đặc điểm cơ bản sau: + Năng lực là thuộc tính cá nhân của mỗi người, thấy được thông qua hoạt động của cá nhân đó trong những tình huống cụ thể. Rõ ràng, nói đến năng lực là nói đến khả năng thực hiện công việc, khả năng hành động hướng đích của mỗi cá nhân khi đứng trước tình huống nào đó.
Do đó năng lực của mỗi người là không giống nhau. Như vậy, ta còn mô tả được năng lực theo những tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng và có được minh chứng thể hiện cho các mức độ này. + Năng lực không chỉ là bẩm sinh mà còn được hình thành và phát triển trong hoạt động, trong đời sống. Năng lực của người học là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học.
+ Tri thức, kĩ năng là điều kiện cần của năng lực. Có năng lực hoạt động tức là có tri thức, kĩ năng trong đó, nhưng ngược lại có tri thức, kĩ năng thì chưa chắc có năng lực. + Năng lực có thể rèn luyện và phát triển được. + Với các cá nhân khác nhau thì có các năng lực khác nhau.
Cấu trúc của năng lực Theo tác giả Phan Đình Khương [12] quan niệm cấu trúc năng lực được cấu thành bởi các năng lực thành tố, và mỗi năng lực thành tố được thể hiện qua các biểu hiện cụ thể. Sơ đồ cấu trúc năng lực theo cách tiếp cận bộ phận Trong luận văn, khi xác định cấu trúc NLTH môn Toán cho HS THCS, chúng tôi sử dụng cách tiếp cận cấu trúc năng lực gồm 4 năng lực thành phần 8 theo cấu trúc thứ bậc. Đây chính là cơ sở để chúng tôi xây dựng các biện pháp phát triển NLTH môn Toán cho HS THCS được trình bày ở chương 2. Năng lực tự học 1.
Tự học a) Khái niệm về tự học Khái niệm “tự học” đã được đề cập và nghiên cứu từ rất sớm bởi các nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu cũng như các luận văn, luận án. Theo nhà tâm lí học N.Rubakin cho rằng: “tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân. biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo của bản thân chủ thể”[33]. Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy” [35].
Và Từ điển Giáo dục học [27] cho rằng: “tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành”. Về phương diện giáo dục học, tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong “Học và dạy cách học” (2004) [22] cũng cho rằng: “tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng các công cụ), cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm… để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”. Theo tác giả Thái Duy Tuyên, tự học là các hoạt động sử dụng các năng lực trí tuệ, phẩm chất, động cơ để chiếm lĩnh tri thức trong các lĩnh vực, kinh nghiệm trong cuộc sống và chuyển hóa thành kiến thức, kĩ năng của người học [24]. Theo Nguyễn Thúy Vân [28] tự học là quá trình tự giác, tích cực của cá nhân, sử dụng năng lực trí tuệ, phẩm chất của bản thân người học để lĩnh hội và chiếm lĩnh tri thức của nhân loại, biến những tri thức đó thành sở hữu của mình, hình thành kiến thức, kỹ năng, thái độ và hoàn thiện nhân cách của bản thân.
9 Theo tác giả Đào Thị Tuyết [26], tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định". Theo Phan Thị Phương Thảo [16] tự học mang tính cá nhân do chính người học thực hiện. Tự học là học một cách độc lập, tự giác, chủ động. Về bản chất tự học là quá trình người học tự giác tiến hành các hoạt động học tập nhằm chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và các phẩm chất cá nhân.
Qua các nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng, tự học là quá trình người học tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, từ đó hình thành các kĩ năng, kĩ xảo thông qua vận dụng các năng lực, phẩm chất, động cơ để có thể tự mình giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. b) Các hình thức tự học Trong quá trình học tập, HS có thể tiến hành các hoạt động tự học bằng nhiều hình thức khác nhau ở trong các hoàn cảnh khác nhau. Chúng tôi đồng quan điểm với tác giả Nguyễn Cảnh Toàn trong “Quá trình dạy - tự học” [19] và “Học và dạy cách học” [22], có 3 hình thức tự học: + Tự học không có người hướng dẫn: người học tự mày mò, tìm kiếm tài liệu, không có sự giúp đỡ của GV. Với hình thức này, đòi hỏi người thực hiện phải thật sự say mê, mong muốn khám phá tri thức mới, và cần phải có kiến thức sâu rộng và liên tục cọ sát với thực tiễn để có thể thực hiện tốt hoạt động của mình.
+ Tự học có hướng dẫn gián tiếp: là hình thức tự học với sự giúp đỡ của GV từ xa thông qua các phương tiện thông tin như điện thoại, mạng xã hội… Với hình thức này GV và HS tương tác dưới dạng thông qua các thắc mắc, kiểm tra hoặc đánh giá. + Tự học có hướng dẫn trực tiếp: là hình thức tự học có sự hướng dẫn trực tiếp của GV thông qua các buổi gặp gỡ trên lớp sau đó về nhà HS tiến hành hoạt động tự học. Hình thức này phù hợp hơn với độ tuổi HS THCS, khi đó HS chiếm lĩnh tri thức dưới sự tác động của GV. 10 c) Vai trò của tự học Hội đồng quốc tế Jacques Delors về giáo dục cho thế kỉ XXI trong báo cáo “Học tập, một kho báu tiềm ẩn” (1996) gửi UNESCO, khẳng định: học suốt đời là một trong những chìa khóa nhằm vượt qua những thách thức của thế kỉ XX, với đề nghị gắn nó với bốn trụ cột giáo dục: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người, hướng về xây dựng một xã hội học tập.
Quan niệm mới “học tập suốt đời: một động lực xã hội” sẽ giúp con người đáp ứng những yêu cầu thế giới thay đổi nhanh chóng. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường [19] đã nêu rõ vai trò của tự học với tư cách là nội lực. Học về cơ bản là tự học, nói đến tự học là nói đến nội lực của người học và ngoại lực của người học. Nội lực của người học bao gồm các yếu tố: nền tảng học vấn; mục đích, động cơ, nhu cầu học, ý chí, nghị lực học tập; cách học hiệu quả; khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng; tận dụng những thuận lợi, khó khăn để tự học tốt.
Ngoại lực của người học là toàn bộ các yếu tố của các cơ chế, môi trường, điều kiện, phương tiện. có liên quan đến tự học. Ngoại lực là quá trình những chuyển đổi bên ngoài, nội lực là quá trình những chuyển đổi bên trong của người học, hai quá trình này thống nhất và đối lập nhau tạo nên sự phát triển của người học. - Tự học là yếu tố quyết định chất lượng, hiệu quả của hoạt động học tập.
Kết quả học tập phụ thuộc chính vào người học (HS), ko phải phụ thuộc người dạy (GV). - Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học (mục tiêu của dạy học không chỉ là truyền thụ tri thức mà dạy HS cách học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo…). - Tự học giúp người học có thể học tập suốt đời (có khả năng tự học, HS có thể thích ứng với mọi điều kiện học tập khác nhau…). - Tự học có vai trò to lớn đối với hiệu quả học tập và sự phát triển nhân cách của con người.
Tự học không chỉ giúp chúng ta đào sâu kiến thức mà còn mở rộng, cập nhật, phát triển kiến thức mới. 11 - Tự học giúp rèn luyện kĩ năng, ý chí phấn đấu trong cuộc sống, đặc biệt là công cụ học tập suốt đời.