CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 1. Khái niệm năng lực Nói đến năng lực là nói đến khả năng có thể thực hiện được và thực hiện tốt một hành động cụ thể nào đó của chủ thể. Để hành động có kết quả tốt chủ thể phải có những hiểu biết về kiến thức, về phương pháp hành động và có sự nổ lực và năng lực được biểu hiện ở mức độ khác nhau thông qua chất lượng và sự nhạy bén làm chủ tình huống để thực hiện tốt hành động ở một lĩnh vực nào đó trong các tình huống khác nhau. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về năng lực, với những cách tiếp cận khác nhau thì các nhà nghiên cứu khoa học có thể định nghĩa khác nhau về năng lực: Theo giáo sư Hoàng Phê trong từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan, tự nhiên sẵn có để thực hiện một công việc nào đó; Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
TSKH Thái Duy Tuyên trong Giáo dục học hiện đại : “Năng lực Là những đặc điểm tâm lí của nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất định. Năng lực có quan hệ với kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. Năng lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt động. Một số năng lực có thể đo được bằng trắc nghiệm”.TS Nguyễn Quang Uẩn trong Giáo trình tâm lí học đại cương: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó”.TS Nguyễn Quang Uẩn trong Giáo trình tâm lí học đại cương: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động đó hoạt động có kết quả”.
[34] 7 Theo OEDC (Tổ chức kinh tế các nước phát triển) : “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [14;107] Theo Chương trình giáo dục Quécbec (Chương trình GDTH Quécbec- Bộ giáo dục Canada -2004): “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ phía nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thày cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác”. [14;tr 107] Từ những cách hiểu trên đây, có thể hiểu một cách đơn giản: Năng lực là khả năng làm chủ hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Quan niệm thực hành, thực hành lịch sử “Thực hành’’ (Npaktaka – danh từ) theo nghĩa tiếng Nga là một hành động của con người có áp dụng lí thuyết vào thực tiễn sản xuất để tích lũy kinh nghiệm.
Từ điển Anh – Việt, “Thực hành’’ (Practice – động từ) là làm lặp đi lặp lại hoặc đều đặn một việc gì đó để nhằm nâng cao sự khéo léo của mình. Hay cũng có thể hiểu “Practise” là luyện tập. [33] Theo từ điển tiếng Việt: “Thực hành” nói một cách khái quát là làm để áp dụng lí thuyết vào thực tế. [25] Khái niệm thực hành đều được đề cập đến trong các cuốn từ điển như một khái niệm cơ bản thường sử dụng đến.
Nói chung, theo định nghĩa của các cuốn từ điển trên thì “thực hành là một hoạt động của con người có áp dụng lí thuyết vào thực tiễn để đáp ứng một nhu cầu nào đó”. Căn cứ vào mục đích, tính chất của thực hành, người ta chia thực hành làm hai loại: thực hành để hành nghề và thực hành trong học tập. Những công việc như của các bác sĩ, các luật sư đòi hỏi họ phải vận dụng những lí thuyết đã học vào để 8 chữa bệnh hay giải quyết vấn đề nào đó có liên quan đến luật pháp,. Trong trường hợp này nghĩa của thực hành tương đương với sự hành nghề.
Các thao tác tư duy tham gia tích cực vào quá trình thực hành, đây là một loại hoạt động bậc cao của con người. Từ những khái niệm như đã trình bày ở trên và căn cứ vào những đặc trưng của bộ môn lịch sử có thể hiểu “Thực hành trong học tập Lịch sử là những hoạt động, hành động học tập của học sinh trên cơ sở vận dụng những hiểu biết về kiến thức lịch sử và phương pháp học tập bộ môn để giải quyết những nhiệm vụ học tập và những vấn đề của cuộc sống đặt ra”. Đối tượng của thực hành lịch sử là những kiến thức lịch sử cơ bản thuộc chương trình SGK và những kĩ năng học tập bộ môn. Phương thức tiến hành các hoạt động thực hành trong dạy học lịch sử rất phong phú, đa dạng, chủ yếu phụ thuộc vào đặc trưng kiến thức, điều kiện vật chất cho phép thực hiện cũng như khả năng hiện có của HS.
Hình thức thực hành sẽ chi phối hành động, thao tác học tập của HS. Căn cứ vào lí luận dạy học và đặc trưng của kiến thức lịch sử, vấn đề thực hành bộ môn lịch sử bao gồm: Thực hành bộ môn bao gồm tất cả những công việc cần thiết học sinh phải làm để hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào tiếp thu kiến thức mới. Đó là những phương thức, biện pháp cụ thể hóa tri thức như “đọc”, biết vẽ, biết sử dụng bản đồ lịch sử, xây dựng các đồ dung trực quan quy ước khác ngoài bản đồ như biểu đồ, sơ đồ, đồ thị, làm các mô hình, sa bàn, đồ phục chế đơn giản nhưng chính xác, khoa học. Sử dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống như vận dụng những hiểu biết về lịch sử quá khứ để hiểu, giải thích hiện tại và biến thành hành động thực tiễn; tập dượt các công việc nghiên cứu lịch sử, tham gia sưu tầm tài liệu để biên soạn và học tập LS địa phương; tham gia vào những hoạt động mang tính công ích xã hội: xây dựng phòng, nhà truyền thống địa phương, hành quân theo bước chân người anh hùng, đi tìm địa chỉ đỏ, gìn giữ chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ.
Đặc điểm của kiến thức lịch sử và nhận thức lịch sử của học sinh Khác với kiến thức của các môn học khác, kiến thức lịch sử trong nhà trường 9 phổ thông có những đặc trưng riêng mà những đặc trưng đó quy định nội dung thực hành bộ môn. Những đặc trưng nổi bật của kiến thức lịch sử được biển hiện như sau: Kiến thức Lịch sử mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian; kiến thức lịch sử mang tính cụ thể; kiến thức lịch sử mang tính hệ thống - Lịch sử là những gì đã diễn ra, đã trải qua trong quá khứ. Tính quá khứ của kiến lịch sử gây ra những cản trở cho quá trình nhận thức của học sinh khi mà các em không được trực tiếp quan sát diễn biến của các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Do vậy, nhận thức lịch sử chủ yếu là quá trình nhận thức gián tiếp.
- Sự kiện, hiện tượng lịch sử rất phong phú, đa dạng diễn ra trong khoảng thời gian, không gian nhất định và không lặp lại. Tính không lặp lại, tính cụ thể của kiến thức lịch sử đòi hỏi quá trình dạy học phải bắt đầu từ việc khôi phục lại bức tranh quá khứ. Sự tái hiện càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động và giàu hình ảnh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. - Tính thống nhất giữa “sử” và “luận” thể hiện quan điểm nhìn nhận, đánh giá lịch sử dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác và những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu nhìn nhận các vấn đề lịch sử, đảm bảo tính đúng đắn, khách quan của lịch sử.
- Các đặc điểm trên của kiến thức lịch sử lại có mối quan hệ biện chứng với nhau. Chỉ có thể dựa vào những nguyên lí của chủ nghĩa Mác, vận dụng phương pháp nghiên cứu đúng đắn, chúng ta mới có những kết luận chính xác mang tính khoa học. Có như vậy, kiến thức lịch sử mới thực sự có ý nghĩa với cuộc sống. Đặc điểm nhận thức của học sinh biến đổi là yếu tố quan trọng quy định nội dung và phương pháp giảng dạy.
Cùng với sự thay đổi về mặt tâm lý thì học sinh phổ thông trung học cũng đang ở giai đoạn tư duy phát triển ở mức cao độ, khả năng độc lập tư duy, tính chủ động trong lĩnh hội tri thức cũng được biểu hiện rõ. Trong khi đó nội dung kiến thức mà học sinh tiếp nhận là cái mới chủ quan, tức là những thành tựu, những kiến thức và những kinh nghiệm mà nhân loại đã khám phá. Hay nói cách khác quá trình nhận thức của học sinh thực ra là một quá trình “khám phá lại”, “phát hiện lại”, những kiến thức dưới sự điều khiển, hướng dẫn của giáo viên. Với đặc điểm tâm lí, sự trưởng thành về nhân cách và đặc trưng quy luật nhận thức của học sinh như vậy, 10 việc dạy học ở trường phổ thông đòi hỏi giáo viên phải tạo điều kiện cho các em lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sáng tạo và bền vững hơn.
Những đặc điểm của kiến thức lịch sử nêu trên đã ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình nhận thức lịch sử của học sinh. Học sinh không được trực tiếp quan sát đối tượng nhận thức. Quá trình nhận thức bắt đầu trên cơ sở nắm bắt lại những nét cơ bản của sự kiện để khôi phục lại bức tranh lịch sử, tìm hiểu bản chất, rút ra tính quy luật, bài học kinh nghiệm cá nhân, giải thích hiện tại, dự đoán tương lai. Quá trình nhận thức lịch sử của học sinh đi từ xa đến gần ngược lại với nhận thức của các em phải đi từ gần đến xa.
Các biện pháp thực hành giúp học sinh tạo ra các biểu tượng lịch sử, khắc phục tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử. Khôi phục lại bức tranh lịch sử chính xác, khoa học là cơ sở, là điều kiện bắt buộc cho quá trình nhận thức lí tính tiếp theo.