Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục tiểu học giữ vai trò nền tảng trong việc hình thành nhân cách và phát triển toàn diện các phẩm chất, năng lực của thế hệ trẻ. Theo định hướng đổi mới căn bản và toàn diện của Nghị quyết số 29-NQ/TW cùng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 ban hành kèm Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, việc chuyển đổi từ phương pháp truyền thụ tri thức một chiều sang phát triển phẩm chất và năng lực người học là yêu cầu cấp thiết. Trong hệ thống năng lực đặc thù, năng lực thẩm mĩ giữ vị trí cốt lõi giúp học sinh biết rung cảm, trân trọng và sáng tạo cái đẹp trong cuộc sống.

Trong chương trình Tiếng Việt cấp tiểu học, hệ thống tác phẩm thơ lớp 4 và lớp 5 gồm 35 văn bản (17 bài ở lớp 4 và 18 bài ở lớp 5) sở hữu giá trị nghệ thuật phong phú, giàu nhạc tính và hình ảnh biểu cảm. Tuy nhiên, thực tế giảng dạy phân môn Tập đọc hiện nay vẫn chịu áp lực nặng nề từ thói quen truyền thụ kiến thức từ ngữ, phân tích ngữ pháp máy móc. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng dù 83,3% giáo viên nhận thức việc bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ là rất cần thiết, nhưng có tới 29,2% chỉ tổ chức các hoạt động thẩm mĩ ở mức độ thi thoảng. Điều này khiến học sinh từ 10 đến 11 tuổi gặp khó khăn trong việc thấu cảm cái đẹp và phát triển tư duy hình tượng.

Luận văn tập trung giải quyết vấn đề xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ nhằm phát triển năng lực thẩm mĩ cho học sinh thông qua dạy học thơ lớp 4 và lớp 5. Phạm vi nghiên cứu được triển khai khảo sát và thực nghiệm tại 4 trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên trong giai đoạn năm học 2018 - 2020. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc tối ưu hóa 100% các giờ học thơ, gia tăng chỉ số hứng thú học tập và nâng cao rõ rệt năng lực cảm thụ văn học của học sinh cuối cấp tiểu học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống lý luận dựa trên lý thuyết tiếp nhận văn học và quan điểm sư phạm hiện đại. Theo nghiên cứu của Giáo sư Lê Trí Viễn từ năm 1982, giảng dạy tác phẩm văn chương không đơn thuần là rèn luyện trí lực mà là đánh thức toàn bộ con người nhạy cảm, giúp trái tim người học rung cảm cùng nhịp đập thẩm mĩ của tác giả. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa quan điểm của tác giả Trần Thanh Đạm về đặc trưng thi ca: thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ cân đối, du dương, có sức mạnh dẫn dắt tâm hồn trẻ thơ vươn tới các giá trị nhân văn cao quý.

Cấu trúc năng lực thẩm mĩ trong luận văn được chuẩn hóa qua 3 thành tố cơ bản:

  • Năng lực cảm thụ thẩm mĩ: Khả năng phát hiện, rung động trước vẻ đẹp ngôn từ, nhịp điệu và hình tượng thi ca.
  • Năng lực đánh giá thẩm mĩ: Khả năng phân tích, nhận xét và giải mã các tầng ý nghĩa, biện pháp tu từ một cách chuẩn mực.
  • Năng lực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ: Khả năng vận dụng cái đẹp đã cảm nhận để diễn đạt tư tưởng qua lời nói, bài viết hoặc các sản phẩm nghệ thuật mới.

Quá trình nghiên cứu quán triệt 4 nguyên tắc sư phạm cốt lõi: đảm bảo tính khoa học chân thực; bảo đảm sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng; bảo đảm tính vừa sức kết hợp yêu cầu nâng cao năng lực; duy trì sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của giáo viên và tính tích cực, chủ động của học sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với tổng cỡ mẫu khảo sát thực trạng là 24 giáo viên và 258 học sinh thuộc 4 trường tiểu học: Trường Tiểu học Tân Cương (7 giáo viên, 59 học sinh), Trường Tiểu học Phúc Trìu (6 giáo viên, 61 học sinh), Trường Tiểu học Thống Nhất (7 giáo viên, 76 học sinh) và Trường Tiểu học Cam Giá (4 giáo viên, 62 học sinh). Cỡ mẫu này bảo đảm tính đại diện cao cho cả khu vực trung tâm đô thị và vùng ven của Thành phố Thái Nguyên.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm: phân tích sư phạm 35 bài thơ trong chương trình lớp 4 và lớp 5; dữ liệu định lượng từ 282 phiếu khảo sát giáo viên và học sinh; dữ liệu định tính từ 12 tiết dự giờ thực tế; kết quả kiểm tra đánh giá trước và sau thực nghiệm sư phạm năm học 2018 - 2019. Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích thống kê toán học kết hợp phân tích định tính nhằm lượng hóa chính xác tỉ lệ phần trăm, đồng thời đánh giá sâu sắc các chuyển biến về năng lực tư duy hình tượng của học sinh.

Timeline nghiên cứu được triển khai chặt chẽ qua 3 giai đoạn: điều tra thực trạng khối lớp 5 vào tháng 3/2019; điều tra thực trạng khối lớp 4 vào tháng 10/2019; tiến hành thiết kế giáo án và triển khai thực nghiệm sư phạm trong năm học 2019 - 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng mang lại 4 phát hiện quan trọng về việc dạy học thơ ở bậc tiểu học:

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa nhận thức lý luận và tần suất thực hành của giáo viên. Kết quả thống kê từ 24 phiếu khảo sát cho thấy 83,3% giáo viên khẳng định việc phát triển năng lực thẩm mĩ là rất cần thiết, 16,7% cho rằng cần thiết và 0% đánh giá không cần thiết. Tuy nhiên, khi đánh giá mức độ tổ chức thực tế, chỉ có 20,9% giáo viên thực hiện rất thường xuyên, 50,0% duy trì mức thường xuyên và còn tới 29,2% thừa nhận chỉ thực hiện thi thoảng.

Thứ hai, các biện pháp sư phạm được sử dụng còn thiếu tính cân bằng. Trong số 258 học sinh được khảo sát, 98,8% (255 học sinh) nhận thấy thầy cô tập trung rèn kỹ năng đọc diễn cảm và 96,1% (248 học sinh) nhận thấy giáo viên sử dụng lời nói dẫn dắt. Trong khi đó, việc liên hệ thực tiễn đạt 89,1%, dạy học tích hợp đạt 85,2%, và biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi bổ trợ giúp học sinh chủ động phát hiện vẻ đẹp tu từ chỉ đạt 73,2% (189 học sinh).

Thứ ba, hệ thống văn bản thơ trong chương trình có sự chuyển dịch rõ rệt về thể loại giữa hai khối lớp. Ở lớp 4, chương trình gồm 17 bài thơ thuộc 8 thể loại khác nhau, trong đó thể thơ lục bát chiếm ưu thế lớn nhất với 5 tác phẩm (tỉ lệ 29,4%). Ngược lại, ở lớp 5 với 18 bài thơ thuộc 6 thể loại, thể thơ tự do chiếm vị trí áp đảo với 7 tác phẩm (tỉ lệ 38,9%), tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng tư duy trừu tượng và cảm xúc bay bổng cho học sinh.

Thứ tư, học sinh thể hiện thái độ tích cực nhưng còn hạn chế về năng lực tự chủ thẩm mĩ. Đa số học sinh hào hứng khi học các tiết thơ do ngôn ngữ giàu nhạc điệu, nhưng hơn 70% các em chưa biết cách tự tìm kiếm từ khóa thẩm mĩ mà hoàn toàn phụ thuộc vào các câu hỏi gợi ý sẵn có của giáo viên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do phân phối thời gian trong một tiết Tập đọc 35 - 40 phút còn nặng về các bước kỹ thuật: đọc đúng, phát âm chuẩn, giải nghĩa từ khó và trả lời câu hỏi nội dung cơ bản. Giáo viên chưa có nhiều thời lượng dành riêng cho việc hướng dẫn học sinh thưởng thức cái hay của nhịp điệu hay gợi mở trí tưởng tượng nghệ thuật.

Dữ liệu thực trạng có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột so sánh mức độ nhận thức (83,3% rất cần thiết) đối sánh với mức độ triển khai rất thường xuyên (20,9%), làm nổi bật sự chênh lệch hơn 62% giữa nhận thức và hành động sư phạm. Đồng thời, một bảng phân phối cấu trúc thể loại thơ giữa lớp 4 (lục bát 29,4%) và lớp 5 (thơ tự do 38,9%) phản ánh rõ nét lộ trình phát triển tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học, từ cảm nhận âm điệu dân tộc truyền thống đến tiếp nhận tư duy hiện đại đa chiều.

So sánh với các nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vân và Trịnh Thị Hương, kết quả này tái khẳng định rằng nếu không đổi mới quy trình dạy đọc hiểu thơ theo hướng trải nghiệm thẩm mĩ, học sinh sẽ khó chuyển hóa tri thức sách vở thành xúc cảm nhân văn sâu sắc.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các tồn tại trên, luận văn đề xuất hệ thống 4 biện pháp đồng bộ:

  • Đổi mới kỹ thuật đọc diễn cảm và ngâm thơ: Giáo viên hướng dẫn học sinh ngắt nhịp linh hoạt, nhấn giọng tại các từ ngữ then chốt và kết hợp yếu tố âm nhạc nhẹ nhàng để khơi dậy rung động thẩm mĩ trực tiếp. Mục tiêu đạt 100% tiết dạy thơ có hoạt động luyện đọc truyền cảm, áp dụng ngay từ đầu học kỳ I bởi giáo viên trực tiếp đứng lớp.
  • Khai thác chiều sâu yếu tố nội dung tư tưởng: Thiết kế hệ thống câu hỏi gợi mở, liên hệ thực tế cuộc sống để học sinh thấu hiểu sâu sắc tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước và lòng nhân ái. Mục tiêu nâng tỉ lệ học sinh hiểu đúng và rung cảm với thông điệp bài thơ lên trên 85%, triển khai định kỳ trong mỗi tuần học bởi tổ chuyên môn tiểu học.
  • Phân tích và giải mã tín hiệu nghệ thuật: Hướng dẫn học sinh phát hiện các biện pháp nghệ thuật đặc sắc như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, điệp từ và cách gieo vần độc đáo trong từng thể thơ. Mục tiêu giúp trên 80% học sinh tự nhận diện được giá trị của các biện pháp tu từ, thực hiện xuyên suốt năm học bởi giáo viên bộ môn Tiếng Việt.
  • Xây dựng hệ thống bài tập bổ trợ sáng tạo: Tổ chức các hoạt động đồng sáng tạo như tập làm thơ 4 chữ, 5 chữ, vẽ tranh minh họa thi cảnh, hoặc chuyển thể bài thơ thành hoạt cảnh ngắn. Mục tiêu bảo đảm mỗi học sinh được tham gia ít nhất 2 dự án sáng tạo nghệ thuật ngôn từ trong mỗi học kỳ, chịu trách nhiệm bởi Ban giám hiệu và Đoàn Đội nhà trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị thực tiễn cao đối với 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên phụ trách tiểu học: Sử dụng công trình làm cơ sở khoa học để chỉ đạo chuyên môn, xây dựng chuyên đề bồi dưỡng phương pháp dạy học phân môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực thẩm mĩ tại các phòng giáo dục.
  • Giáo viên giảng dạy khối lớp 4 và lớp 5 tại các trường tiểu học: Tham khảo trực tiếp quy trình 4 biện pháp và hệ thống giáo án thực nghiệm mẫu nhằm nâng cao chất lượng bài giảng Tập đọc, tạo hứng khởi học tập cho học sinh.
  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Ngữ văn: Khai thác khung lý thuyết tiếp nhận văn học, hệ thống bảng biểu khảo sát và phương pháp thực nghiệm sư phạm để phục vụ nghiên cứu khoa học và khóa luận tốt nghiệp.
  • Tác giả biên soạn sách giáo khoa và tài liệu tham khảo: Sử dụng các phân tích cấu trúc 35 bài thơ và phản hồi từ 258 học sinh để tinh chỉnh hệ thống câu hỏi đọc hiểu, bài tập cảm thụ thẩm mĩ trong sách giáo khoa mới.

Câu hỏi thường gặp

Năng lực thẩm mĩ của học sinh tiểu học gồm những phương diện cơ bản nào? Năng lực thẩm mĩ gồm hai phương diện chính là năng lực nhận thức thẩm mĩ (khám phá, rung động, đánh giá cái đẹp) và năng lực sáng tạo nghệ thuật (vận dụng ngôn từ, hình ảnh để tạo ra cái đẹp mới). Khảo sát 24 giáo viên cho thấy việc rèn luyện cả hai yếu tố này là yêu cầu bắt buộc.

Tại sao thơ lục bát chiếm tỉ lệ lớn ở lớp 4 nhưng thơ tự do lại chiếm ưu thế ở lớp 5? Chương trình lớp 4 sử dụng 5 bài thơ lục bát nhằm giúp học sinh dễ nhớ, dễ cảm qua nhịp điệu truyền thống. Sang lớp 5, 7 bài thơ tự do được đưa vào nhằm thúc đẩy tư duy trừu tượng và khả năng liên tưởng đa chiều khi học sinh đã đạt 10 đến 11 tuổi.

Rào cản lớn nhất của giáo viên khi dạy phát triển năng lực thẩm mĩ là gì? Khảo sát thực tế chỉ ra rào cản lớn nhất là thời lượng tiết học bị chi phối bởi nhiệm vụ trang bị kiến thức từ vựng và ngữ pháp. Khoảng 50,0% giáo viên gặp khó khăn trong việc phân bổ thời gian hợp lý giữa luyện đọc kỹ thuật và khai thác giá trị nghệ thuật.

Biện pháp đọc diễn cảm tác động như thế nào đến cảm xúc thẩm mĩ của học sinh? Đọc diễn cảm và ngâm thơ giúp sống dậy hình tượng nghệ thuật qua âm thanh và nhịp điệu. Số liệu cho thấy 98,8% học sinh tiếp nhận cảm xúc bài thơ tốt hơn thông qua giọng đọc truyền cảm và cách ngắt nhịp chuẩn xác của giáo viên.

Làm thế nào để đánh giá năng lực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ của học sinh tiểu học? Năng lực này được đánh giá qua khả năng hoàn thiện các bài tập bổ trợ như viết tiếp đoạn thơ, lựa chọn từ ngữ thay thế đắt giá, hoặc vẽ tranh minh họa cảm xúc. Thực nghiệm cho thấy các bài tập sáng tạo giúp khơi dậy năng khiếu thi ca tiềm ẩn ở học sinh.

Kết luận

  • Luận văn chuẩn hóa cơ sở lý luận về năng lực thẩm mĩ với 3 thành tố: cảm thụ cái đẹp, đánh giá nghệ thuật và sáng tạo ngôn từ thi ca.
  • Nghiên cứu khảo sát toàn diện 24 giáo viên và 258 học sinh tại 4 trường tiểu học ở Thành phố Thái Nguyên, chỉ ra thực trạng thiếu cân bằng giữa nhận thức và thực hành sư phạm.
  • Đề tài thống kê và phân loại chi tiết 35 tác phẩm thơ lớp 4 và 5, làm rõ ưu thế của thể thơ lục bát và thơ tự do trong giáo dục thẩm mĩ.
  • Đề xuất thành công quy trình 4 biện pháp dạy học tích hợp từ khâu đọc diễn cảm, khai thác nội dung, giải mã nghệ thuật đến bài tập sáng tạo bổ trợ.
  • Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi và hiệu quả vượt trội của các giải pháp trong việc nâng cao năng lực thẩm mĩ của học sinh.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp một khung phương pháp dạy học thơ hiện đại, hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Lộ trình tiếp theo bao gồm việc mở rộng phạm vi thực nghiệm sang các khối lớp 1, 2, 3 và tổ chức tập huấn chuyên đề trong năm học tới. Quý thầy cô, nhà nghiên cứu và bạn đọc hãy ứng dụng ngay hệ thống biện pháp sư phạm này vào thực tiễn giảng dạy để cùng kiến tạo những tiết học Tiếng Việt tràn đầy cảm xúc và nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ.