Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học Toán 1. Một số vấn đề về năng lực Trong chương trình GDPT tổng thể [3], khái niệm NL được hiểu như sau: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” Từ khái niệm này có thể thấy, năng lực bao gồm các đặc điểm: - Năng lực mang thuộc tính cá nhân, là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học; - Năng lực được biểu hiện thông qua việc huy động những kiến thức, kĩ năng cùng một số thuộc tính cá nhân để thực hiện thành công một hay nhiều hoạt động cụ thể trong những điều kiện nhất định.
- Năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm NL được nêu trong chương trình GDPT tổng thể. Các năng lực cần phát triển cho học sinh Trung học phổ thông Trong Chương trình GDPT tổng thể [3] có chỉ rõ 10 năng lực cốt lõi của HS được chia thành 2 nhóm năng lực chính là năng lực chung và năng lực chuyên môn. - “Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp”.
Yếu tố di truyền, quá trình giáo dục và những trải nghiệm cuộc sống của con người đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành và phát triển những năng lực này. Nhiều hoạt động khác nhau trong cuộc sống cần sử dụng đến 10 năng lực này. Trong nhà trường, những NL chung sẽ được nhà trường và GV giúp các em HS phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông là: Tự chủ và tự học. Giao tiếp và hợp tác.
GQVĐ và sáng tạo. - “Năng lực chuyên môn là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động”. NL chuyên môn được xem như một năng khiếu, giúp HS phát huy thế mạnh của bản thân nhiều hơn. Các năng lực chuyên môn được rèn luyện và phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông mới gồm có: Ngôn ngữ; Tính toán; Tin học; Thể chất; Thẩm mỹ; Công nghệ; Tìm hiểu tự nhiên và xã hội.
Năng lực toán học a. Khái niệm Qua những nghiên cứu về NL toán học, chúng tôi nhận thấy có hai quan niệm thuộc về năng lực nổi bật: - Theo chương trình đánh giá HS quốc tế PISA [33], NL toán học được thể hiện từ sự quan tâm đến những hiểu biết toán học và sự vận dụng nó trong đời sống. - Trần Luận và V. Cruchetxki [6] khi nói về năng lực toán học lại chủ yếu quan tâm đến thuộc tính tâm lí cá nhân, và không đề cập tới sự vận dụng toán học vào đời sống.
Hai quan điểm trên chưa phản ánh hết những đặc điểm của năng lực toán học. Do đó, trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm: “Năng lực Toán học là khả năng của một cá nhân thực hiện thành công hoạt động học tập Toán bao gồm cả các những đặc điểm tâm lí cá nhân, suy luận toán học và vận dụng thành công toán học để giải quyết một cách sáng tạo những vấn đề thực tiễn”. Đặc điểm và thành phần Để tìm ra cấu trúc của NL toán học của HS, nhiều công trình nghiên cứu tâm lí đã được thực hiện. - Nhà nghiên cứu V.
Cruchetxki[6], cho rằng cấu trúc năng lực toán học của HS bao gồm các thành phần: “thu nhận thông tin toán học, chế biến thông tin toán học, lưu trữ thông tin toán học, thành phần tổng hợp chung”. Kôlmôgôrôv [20], thành phần NL Toán học bao gồm: “Năng lực biến đổi khéo léo những biểu thức chữ phức tạp; năng lực tìm các con đường giải phương trình không theo quy tắc chuẩn; trí tưởng tượng hình học hay “trực giác hình học”; nghệ thuật suy luận lôgic theo các bước được phân chia một cách đúng đắn, đặc biệt là hiểu và có kỹ năng vận dụng đúng đắn nguyên lý quy nạp toán học”. - Theo chương trình giáo dục phổ thông môn Toán [4], các thành tố của năng lực toán học đối với HS THPT bao gồm: “Năng lực tư duy và lập luận toán học” “Năng lực mô hình hóa toán học” “Năng lực giải quyết vấn đề toán học” “Năng lực giao tiếp toán học” “Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học Toán” Như vậy có thể thấy, chương trình giáo dục phổ thông đã chỉ ra đầy đủ các thành tố của năng lực toán học đối với HS phổ thông THPT nói riêng và HS nói chung. Do vậy, để hình thành và phát triển năng lực toán học cho HS, chúng ta cần tác động vào những thành tố này.
Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán 1. Công cụ, phương tiện học toán a. Khái niệm và tầm quan trọng Theo Nguyễn Bá Kim [12], “phương tiện dạy học được hạn chế ở những thiết bị có khả năng chứa đựng hoặc truyền tải những thông tin về nội dung dạy học và về sự điều khiển quá trình dạy học”. 12 Theo khái niệm này, MTCT, SGK, phiếu học tập, Video bài giảng… là những CC&PT dạy và học.
Những vật dụng không chứa đựng hay truyền tải thông tin đến quá trình dạy học như bàn, ghế,… đều không phải là phương tiện dạy học Đồng tình với quan điểm trên, tác giả sử dụng quan niệm về CC&PT học Toán như sau: CC&PT học Toán là tất cả những phương tiện có khả năng chứa đựng hay truyền tải thông tin về nội dung dạy học và về sự điều khiển quá trình dạy học, được sử dụng trực tiếp vào quá trình dạy học nhằm hỗ trợ GV và HS tổ chức và tiến hành hợp lí, có hiệu quả quá trình dạy học. Những CC&PT học toán thông dụng Các CC&PT dạy học thông dụng trong môn toán được chia thành các nhóm: CC&PT nghe nhìn, tài liệu in ấn, CNTT và truyền thông. - CC&PT nghe nhìn bao gồm: Các vật thật: quả bóng hình cầu, cái nón, cái cốc hình trụ tròn… Mô hình: Hình nón, hình trụ, hình cầu khối lập phương… Hình ảnh: Bảng biến thiên, đồ thị, tranh ảnh minh họa,… Video bài giảng, máy chiếu… - Tài liệu in ấn như: SGK, phiếu học tập, sổ tay công thức… - CNTT và truyền thông: MTCT, máy tính cá nhân, Laptop, điện thoại di động, mạng Internet, hệ thống truyền thông đa phương tiện… c. Các chức năng của CC&PT học toán Mỗi CC&PT học toán có thể giúp thực hiện một số các chức năng cụ thể.
Các chức năng của công cụ, phương tiện học Toán [12] CHỨC NĂNG CC&PT Chức năng kiến tạo - Phương tiện mang chức năng hình thành biểu tượng tri thức về đối tượng cần nghiên cứu khi HS chưa biết nội dung thông tin chứa trong phương tiện, ví dụ như: hình tam giác, hình chóp, khối lập phương… 13 - Phương tiện dạy học có chức năng minh họa khái niệm đã biết nếu HS đã biết nội dung của một khái niệm dưới dạng ngôn ngữ toán học, còn phương tiện chứa thông tin dưới dạng hình ảnh hay mô hình. Chức năng rèn Một số CC&PT hỗ trợ HS rèn luyện kĩ năng khi sử dụng luyện kĩ năng. các công cụ đó như: MTCT, từ điển, video…hay rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích, so sánh như biểu đồ, đồ thị, các phần mềm đồ họa… Chức năng tổ chức, Một số ứng dụng có chức năng tổ chức và điều khiển điều khiển quá quá trình học tập của HS như: Google classroom, trình học tập. zoom,… Chức năng kích Một số CC&PT dạy và học môn toán có thể kích thích thích hứng thú học hứng thú học tập của HS như Video, hình ảnh, phần tập mềm vẽ đồ thị… Chức năng hợp lí CC&PT học toán còn có thể hợp lí hóa việc tiến hành hóa công việc của một số hoạt động cụ thể của thầy và trò như phần mềm thầy và trò trình chiếu PowerPoint, MTCT, vẽ hình bằng phần mềm… d.
Một số hình thức sử dụng CC&PT học toán - Sử dụng CC&PT dạy học thích hợp với PPDH. Mỗi PPDH cần đến không chỉ một phương tiện dạy học xác định, một phương tiện cũng có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Cần khai thác khả năng thích ứng linh hoạt của các CC&PT dạy học để đạt được hiệu quả cao nhất của chúng. - Sử dụng CC&PT tạo môi trường học tập tích cực, chủ động và sáng tạo, độc lập hoặc tương tác cho HS.
- Phối kết hợp sử dụng nhiều CC&PT khác nhau nhằm phát huy tối đa hiệu quả của các phương tiện. - Sử dụng CNTT và truyền thông như một công cụ, phương tiện DH. CNTT và truyền thông có nhiều điểm mạnh về kĩ thuật để phục vụ cho các hoạt 14 động dạy và học như: Kĩ thuật đồ họa, tương tác trên môi trường mạng Internet, phần mềm chuyên dụng, hệ thống trình chiếu, soạn thảo văn bản. Năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán a.
Đặc điểm và thành phần NL sử dụng CC&PT học Toán là một trong năm thành phần năng lực của toán học trong Chương trình giáo dục Phổ thông môn Toán 2018 [4]. NL này được thể hiện qua những hoạt động sau: - “Nhận biết được tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các đồ dùng, phương tiện trực quan thông thường, phương tiện khoa học công nghệ (đặc biệt là phương tiện sử dụng CNTT), phục vụ cho việc học Toán”. - “Sử dụng được các công cụ, phương tiện học toán, đặc biệt là phương tiện khoa học công nghệ để tìm tòi, khám phá và GQVĐ toán học (phù hợp với đặc điểm nhận thức lứa tuổi)”. - “Nhận biết được các ưu điểm, hạn chế của những công cụ, phương tiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí”.
Các biểu hiện của NL này ở HS THPT: - BH1: “Nhận biết được tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các công cụ, phương tiện học toán (bảng tổng kết về các dạng hàm số, mô hình góc và cung lượng giác, mô hình các hình khối, bộ dụng cụ tạo mặt tròn xoay,.