CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NÓI VÀ NGHE CHO HỌC SINH LỚP 2 THEO TIẾP CẬN PHÂN HOÁ 1. Cơ sở lí luận của phát triển năng lực nói và nghe cho học sinh lớp 2 theo tiếp cận phân hoá 1. Khái niệm về năng lực và dạy học phát triển năng lực 1. Khái niệm về năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt (1998): “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
Năng lực cũng là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.” Trên cơ sở phân tích những định nghĩa trên, tác giả Hoàng Hòa Bình đã đưa khái niệm: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Hai đặc trưng cơ bản của năng lực là: 1) Được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động; 2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn." [3] Chương trình GDPT 2018 định nghĩa: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.” [1] Trong khuôn khổ đề tài, tác giả sử dụng khái niệm NL theo Chương trình GDPT 2018. Phân loại năng lực Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã chia NL đầu ra thành 3 nhóm: – Năng lực nhận thức là những kĩ năng quan trọng đóng góp vào mục tiêu phát triển kiến thức cá nhân.
Đồng thời, chúng cũng là những yếu tố hỗ trợ giúp ta áp dụng thành công những kiến thức đã có. 16 – Năng lực thái độ bao gồm những hành động, giá trị và chuẩn mực nhằm đạt được hiệu suất cao, đồng thời thể hiện cách người học phát triển các kiến thức khác nhau một cách hiệu quả. – NL nghề nghiệp là những kiến thức về nguồn thông tin, kĩ năng tiếp cận, công nghệ, dịch vụ, quản lý, cùng khả năng phê phán, lựa chọn và ứng dụng chúng để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể và đạt được kết quả mong muốn trong lĩnh vực nghề nghiệp. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (2018) do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đã cấu trúc NL thành hai nhóm: Các năng lực chung được hình thành và phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục bao gồm: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; Các năng lực đặc thù được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các môn học và hoạt động giáo dục cụ thể như: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ và năng lực thể chất.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 không chỉ tập trung hình thành và phát triển các năng lực chung mà còn đóng góp vào việc phát hiện và rèn luyện năng khiếu của HS. NL chung và NL đặc thù có quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Năng lực chung là nền tảng cho sự phát triển của năng lực đặc thù. Khi năng lực chung được phát triển mạnh mẽ, năng lực đặc thù cũng dễ dàng đạt được.
Tuy nhiên, sự phát triển của năng lực đặc thù trong điều kiện nhất định sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của năng lực chung. Trên thực tế, để đạt được kết quả cao trong bất kỳ hoạt động nào, cần phát triển đồng thời cả hai năng lực này. Dạy học phát triển năng lực Trong tài liệu “Phát triển năng lực HS qua dạy học tích cực”, tác giả Đặng Hoàng Giang và Nguyễn Hữu Đăng quan niệm: “Dạy học phát triển năng lực là quá trình giáo dục tập trung vào việc phát triển năng lực của HS, đồng thời khai thác tối đa tiềm năng của từng cá nhân.” [8] 17 Theo Nguyễn Thanh Hải và Trần Thị Thanh Hải: “Dạy học phát triển năng lực là quá trình giáo dục nhằm giúp HS phát triển và tăng cường năng lực của bản thân để tự tin, độc lập, sáng tạo và thành công trong cuộc sống”. [9] Dạy học phát triển năng lực là phương pháp thiết kế chương trình dạy học, tổ chức và phối hợp giữa hoạt động dạy và học dựa trên quan điểm phát triển năng lực.
Việc phát triển năng lực có thể được thể hiện trong hoạt động trí tuệ và rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề. Dựa trên các quan điểm trên, tác giả luận văn quan niệm về dạy học phát triển năng lực đó là việc phát triển kĩ năng, kiến thức và khả năng của người học, nhằm giúp họ phát triển và trở thành những người có năng lực và kĩ năng cần thiết để thành công trong cuộc sống. Dạy học phát triển năng lực đòi hỏi người dạy phải đưa ra các phương pháp học tập phù hợp với mục tiêu đào tạo của người học. Nó cũng tập trung vào việc tạo ra một môi trường học tập tích cực và động viên người học tham gia tích cực vào các hoạt động học tập.
Khái niệm về dạy học theo tiếp cận phân hoá 1. Khái niệm dạy học phân hoá Theo Phạm Đình Khương, “phân hóa” là “chia” ra thành nhiều bộ phận khác hẳn nhau. Để “chia” người học, có nhiều cách chia, chẳng hạn như chia theo lứa tuổi, chia theo giới tính, chia theo dân tộc, chia theo khu vực sinh sống… Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống: “Dạy học phân hóa xuất phát từ sự biện chứng của thống nhất và phân hóa, từ yêu cầu đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu dạy học đối với tất cả mọi HS, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa và tối ưu những khả năng của cá nhân”. [26] Tác giả quan niệm, phân hóa là một hoạt động phân loại và chia thành nhiều loại đối tượng khác nhau, từ đó lựa chọn cách tổ chức, vận dụng nội dung, phương pháp và hình thức phù hợp với đối tượng ấy nhằm đạt hiệu quả cao.
DHPH là hoạt động dạy học dựa vào đặc điểm tâm – sinh lý, nhịp độ, khả năng, nhu cầu và hứng thú khác nhau của những người học mà GV lựa chọn mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức phù hợp qua đó phát triển tối đa tiềm năng, thiên hướng vốn có của mỗi HS [27]. 18 Mỗi HS là một cá thể có sự khác biệt về điều kiện sinh sống, tâm sinh lí, mức độ nhận thức, trình độ xuất phát, trí tuệ, năng lực và phẩm chất, hứng thú, nhu cầu, phong cách học tập. cho nên mỗi HS là những cá thể khác nhau. DHPH là chiến lược dạy học mà việc lựa chọn chương trình, bài giảng và quá trình dạy học phù hợp với những sự khác biệt của từng loại đối tượng người học nhằm phát triển tối đa tiềm năng riêng vốn có của HS.
DHPH tạo ra một môi trường học tập mà ở đó HS là trung tâm của quá trình dạy học, bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực cho người học. Môi trường dạy học này sẽ tạo cơ hội để HS phát triển tư duy độc lập và tính tích cực, sáng tạo. Trong phạm vi đề tài chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu DHPH theo năng lực và nhu cầu của người học. Những tư tưởng chủ đạo của dạy học phân hóa Dạy học phân hoá có những tư tưởng chủ đạo: Thứ nhất, lấy trình độ phát triển chung của HS trong lớp làm nền tảng.
Trong quá trình lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học, người giáo viên phải lấy trình độ phát triển chung và điều kiện chung của HS trong lớp làm nền tảng. Thứ hai, sử dụng những biện pháp phân hóa để đưa HS yếu kém lên trình độ chung. HS yếu kém là đối tượng HS có nhiều thiếu hụt về kiến thức, kĩ năng và phương pháp học tập. Việc tiếp nhận kiến thức, rèn luyện kĩ năng cần thiết ở những HS yếu kém thường đòi hỏi nhiều công sức và thời gian.
Trên cơ sở những mục tiêu chung của bài học, GV cần phải thiết kế những hoạt động riêng, phải có những chỉ dẫn cụ thể, những phương pháp học cụ thể, giúp đỡ các em trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập. Từ đó giúp các em tiến bộ, hòa nhập vào học tập đồng loạt theo trình độ chung của cả lớp. Thứ ba, có các biện pháp phân hóa về nội dung và phương pháp giúp HS khá giỏi đạt được những yêu cầu nâng cao trên cơ sở đạt yêu cầu cơ bản. HS khá, giỏi là những đối tượng HS có thể hoạt động độc lập để hoàn thành mục tiêu cơ bản của bài học.
Do đó để phát huy được trí tuệ, năng lực tư duy vận dụng sáng tạo của những HS khá, giỏi này GV cần phải bổ sung những nhiệm vụ nâng cao hơn trong quá trình dạy học. Mức độ của dạy học phân hóa Theo hai tác giả Tôn Thân (2005), Nguyễn Bá Kim (2006), DHPH được thực hiện ở hai hướng (2 mức độ): Dạy học phân hóa ở cấp độ vĩ mô và dạy học phân hóa ở cấp độ vi mô. Dạy học phân hóa ở cấp vĩ mô DHPH ở cấp vĩ mô là sự tổ chức quá trình dạy học thông qua cách tổ chức các loại hình trường lớp khác nhau dành cho các đối tượng HS khác nhau, xây dựng cấu trúc và chương trình giáo dục khác nhau. Dạy học phân hóa ở cấp vi mô: – Phân hóa nội tại: là quá trình giáo dục ở cấp độ cá nhân hóa, tập trung vào từng đối tượng HS riêng biệt bằng cách sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học phù hợp để cải thiện chất lượng giảng dạy.
Việc phân hóa nội tại trong giảng dạy bao gồm việc tổ chức tiến trình giảng dạy trong một tiết học hoặc một lớp học, tùy thuộc vào sự khác biệt của các HS; sử dụng các biện pháp phân hóa phù hợp trong một lớp học đồng nhất, cùng với cùng một kế hoạch học tập, chương trình và sách giáo khoa. Đây là quá trình tập trung vào cá nhân trong giảng dạy. – Phân hóa việc giúp đỡ của GV: Trong quá trình giảng dạy, phân hóa sự hỗ trợ của giáo viên là rất cần thiết.