Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề phát triển năng lực nhận thức - tư duy và bài tập hoá học có liên quan đến thực tiễn - môi trường. Chương 2: Một số biện pháp phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh thông qua hệ thống bài tập hoá học thực tiễn và môi trường. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm. 9 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƢ DUY THÔNG QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP HOÁ HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TIỄN VÀ MÔI TRƢỜNG 1.
Cơ sở lý luận về nhận thức : 1. Khái niệm nhận thức Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người (nhận thức, tình cảm, lí trí). Nó là tiền đề của hai mặt kia và đồng thời có mối liên hệ chặt chẽ với chúng và các hiện tượng tâm lí khác [4, tr. Hoạt động nhận thức bao gồm nhiều quá trình khác nhau.
Có thể chia hoạt động nhận thức làm hai giai đoạn lớn: - Nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) - Nhận thức lí tính (tư duy và trừu tượng) 1. Nhận thức cảm tính (cảm giác và tri giác) Là một quá trình tâm lí, nó là sự phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật và hiện tượng thông qua sự tri giác của các giác quan. Cảm giác là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của hoạt động nhận thức, nó chỉ phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng. Tri giác phản ánh sự vật hiện tượng một cách trọn vẹn và theo một cấu trúc nhất định.
Nhận thức lí tính (tư duy và tưởng tượng) Tưởng tượng là một quá trình tâm lí phản ánh những điều chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có. Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính qui luật của sự vật hiện tuợng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. Như vậy tư duy là quá trình 10 z tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập. Nét nổi bật của tư duy là tính “có vấn đề” tức là trong hoàn cảnh có vấn đề tư duy được nảy sinh.
Tư duy là mức độ lí tính nhưng có liên quan chặt chẽ đến nhận thức cảm tính. Nó có khả năng phản ánh những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng. Như vậy quá trình tư duy là khâu cơ bản của quá trình nhận thức. Quan điểm của nhà tâm tí học Jean Piaget về phát triển năng lực nhận thức.
Những nghiên cứu của nhà tâm lí học nổi tiếng người Thuỵ Sĩ - Jean Piaget về cấu trúc của quá trình nhận thức dựa trên nền tảng của môn Sinh học. Jean Piaget đã quan tâm tới bản chất của quá trình phát triển tư duy hay nhận thức trong di truyền học, đó là quá trình phát triển của học sinh về nhận thức tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài. Jean Piaget chia quá trình nhận thức thành 4 giai đoạn: * Giai đoạn thần kinh cảm nhận. * Giai đoạn tiền hoạt động.
* Giai đoạn hoạt động cụ thể. * Giai đoạn hoạt động chính thức. Các lí thuyết nhận thức coi quá trình nhận thức bên trong với tư cách là một quá trình xử lí thông tin. Bộ não xử lí các thông tin như một hệ thống kĩ thuật.
Quá trình nhận thức là quá trình có cấu trúc và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi. Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài, xử lí và đánh giá chúng, từ đó quyết định các hành vi ứng xử. Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà được hình thành qua kinh nghiệm. Trung tâm của lí thuyết là các hoạt động trí tuệ: Xác định, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các sự kiện và đối tượng, nhớ lại những kiến thức 11 z đã biết, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới.
Quá trình nhận thức khởi đầu bằng sự cảm nhận của người học về một hiện tượng mới. Chính người học phải tự mình phân tích, xử lí các thông tin, dữ liệu đã cảm nhận được để hiểu được hiện tượng mới và như vậy tự thu lượm được kiến thức mới. Mô hình của quá trình nhận thức. Một quá trình nhận thức thể hiện trong trí não chúng ta bề thế giới quanh mình đó là các quá trình phân tích thông tin và xử lí các thông tin một số khác hướng vào nội tâm như những quá trình tư duy và tưởng tượng.
Học sinh Thông tin đầu vào Quá trình nhận thức Kết quả đầu ra (Tri thức cũ) (Phân tích, tổng hợp, (Tri thức mới) khái quá hoá, tái tạo.) Theo mô hình này, tư duy và mọi cách nhận thức đều có thể tìm hiểu được bằng cách phân tích ra thành những bộ phận cấu thành. Thông tin đầu vào sẽ đi qua một loạt các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp. Khi thông tin đi qua hết các hệ thống của bộ não, những nội dung phức tạp sẽ được phân tích và sau đó giải mã, đơn giản hoá. Ta có thế hình dung nhận thức là một quá trình dây chuyền lắp ghép, được xây dựng từ những giai đoạn nguyên sơ như các cảm giác, tri giác cơ bản, tới những giai đoạn phức tạp hơn như lí luận và giải quyết vấn đề.
Giải pháp để phát triển năng lực nhận thức. - Tập trung sự chú ý vào những kiến thức được học. - Từ kiến thức ban đầu, người học tư duy sáng tạo để mở rộng, hiểu sâu hơn những điều đã học và ghi nhớ lại theo cách riêng của mình (tự mã hoá kiến thức). 12 z - Tăng dần khả năng nhận thức lên mức độ cao của người học.
Qui trình kĩ năng phát triển nhận thức được trình bày tóm tắt trong sơ đồ sau: Kiên trì Phát triển và Rèn luyện Tự phát hiện và tập luyện luyện tập nhằm và ghi nhớ tìm cách điều chỉnh một kỹ đạt trình độ cao ở kiến thức lệch lạc, phát triển năng mới các kỹ năng gồm để đạt đến những suy nghĩ trong mỗi nhiều thành phần, mô hình thành kiến thức phù ngày cuối cùng đạt kỹ lý tưởng hợp với mục đích năng tổng thể đã định Sơ đồ 1. Qui trình phát triển kĩ năng nhận thức Nhận thức đúng các kiến thức cơ bản thông qua các bài học và cách thức tiến hành thí nghiệm hoá học đòi hỏi người học dựa trên giải pháp phát triển nhận thức kĩ năng nhận thức. Trong việc phát triển năng lực nhận thức của HS, khâu trung tâm là phát triển năng lực tư duy, trong đó đặc biệt chú trọng rèn luyện cho HS một số thao tác tư duy và phương pháp tư duy.Vấn đề phát triển tƣ duy.N Tônxtôi đã viết: "Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thành quả những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ". Như vậy, HS chỉ thực sự lĩnh hội được trí thức chỉ khi họ thực sự tư duy.N Sacđacốp: Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật và hiện tượng của hiện thực trong dấu hiệu những thuộc tính chung và bản chất của chúng.
Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật hiện tượng mới riêng rẽ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hoá đã thu nhận được.Tư duy và trí tuệ dưới góc độ giáo dục a. Hoạt động nhận thức và trí tuệ. 13 z Hoạt động nhận thức được bắt đầu từ phôi thai của hành động đến các động thái của tư duy. Hành động nhận thức có thể được biểu hiện thành lời (kể, nói, tường thuật, khiếu nại, khẳng định.) hoặc không thành lời (ghi nhớ, quyết định, so sánh, liên hệ.) - Trong Từ điển Tâm lý (1991), Nguyễn Khắc Viện gọi intelligence là trí, mang nhiều nghĩa về khả năng hiểu biết, suy luận, sáng tạo.
Theo ông khả năng hành động thích nghi với biến động của hoàn cảnh thiên về hành động, thường coi là trí khôn, thiên về tư duy trừu tượng gọi là trí tuệ Năng lực trí tuệ là thể hiện khả năng phản ứng của cá nhân đối với chất lượng của giao tiếp xã hội trong cộng đồng. Lớp học là nơi để học sinh thể hiện khả năng hợp tác trí tụê, phê phán có ý thức, suy lý, khám phá. học sinh được động viên để năm và khẳng định lại những nguyên tắc, ý tưởng, lập luận và lý giải. Thiếu năng lực trí tuệ, người học không thể thực hành nhận thức một cách hiệu quả.
- Tư duy: "Dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo, làm cho người ta có nhận thức đúng đắn về sự vật: Tư duy bao giờ cũng là sự giải quyết vấn đề thông qua những tri thức đã nắm được từ trước". (Từ điển tiếng Việt - NXB KHXH, 1997) - Piaget định nghĩa tư duy như một dạng trí tuệ nội tâm, khác với trí tuệ giác - động (cảm giác - vận động), không chỉ dựa trên hành động và tri giác, bằng ngôn ngữ, hình ảnh tinh thần. Tư duy gắn với sự tái tạo tinh thần vv. Như thế các hoạt động xem như các thủ pháp hoạt động tư duy có thể phát triển thông qua các hoạt động dạy và học.
Những phẩm chất của hoạt động trí tuệ. Các đặc tính của hoạt động trí tuệ gồm: - Tính định hướng: Định hướng được mục đích của hoạt động và con đường ngắn nhất để đạt tới mục đích khi xác định chính xác đối tượng của 14 z hoạt động trí tuệ. Để động viên được trò học và biết cách học thông minh thì giáo viên phải là tấm gương sáng về tự học. - Độ sâu của trí tuệ: Nắm vững sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan.
- Tính linh hoạt: Hoạt động trí tuệ để nhanh chóng nắm bắt kiến thức, xây dựng mối liên hệ đa chiều giữa các môn học, sử dụng kiến thức toán học để giải nhanh các bài tập hoá học, dùng hoá học giải thích các hiện tượng thực tế, kiến thức xã hội một cách sáng tạo, nhờ đó đối tượng sẽ chiếm lĩnh tri thức nhanh hơn. - Tính mềm dẻo: Chiếm lĩnh tri thức thông qua hoạt động trí tuệ đặc biệt là hoạt động tư duy của học sinh theo nhiều hướng: Trừu tượng - cụ thể - khái quát - đơn lẻ - khái quát.