phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc khóa luận còn gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học theo hƣớng phát triển NL hợp tác của HS trong dạy học VL 11 ở trƣờng THPT. Thiết kế tiến trình dạy học chƣơng “Quang hình học” Vật Lý lớp 11 theo hƣớng phát triển NL hợp tác của HS. Thực nghiệm sƣ phạm.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Khái niệm năng lực Thuật ngữ “năng lực” có nguồn gốc Latinh “competentia” có nghĩa là gặp gỡ. Trong tiếng Anh nghĩa là competency, capability, capacity, ability… tức là sự kết hợp của kiến thức quan sát và đo lƣờng, kỹ năng, khả năng và phẩm chất nói về khả năng đặc biệt của một ngƣời. Trong đó: Năng lực (Ability/Capacity): Đƣợc hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng (hoặc tiềm năng) mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định.
Chẳng hạn, khả năng giải toán, khả năng làm thí nghiệm. Năng lực (Competency): Là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ/ hành động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động. Khái niệm năng lực đƣợc nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa theo những cách khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng, 1998) [10] có giải thích: Năng lực là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó.
Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Theo tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn (1998) trong tâm lí học đại cƣơng [17]: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Tác giả Hoàng Hòa Bình (2015) nhận định rằng “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [3]. 5 Theo tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cƣờng coi “NL của HS là khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ vào giải quyết các tình huống học tập và thực tiễn, thu được những sản phẩm cụ thể, có thể quan sát, đánh giá được” [2].
Trong lí luận dạy học hiện đại, NL đƣợc quan niệm là “điển hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành đọng và trách nhiệm đạo đức” [2]. Chƣơng trình giáo dục của các nƣớc cũng đƣa ra những quan niệm khác nhau. Theo Chƣơng trình giáo dục Québec của Canada, “NL có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài…” [16].
Chƣơng trình giáo dục của NewZealand cũng đƣa ra định nghĩa rất ngắn gọn: “NL là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” [21]. Theo Chƣơng trình GDPT 2018 cũng đã nêu rõ “NL là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. [4] Các khái niệm trên tuy diễn đạt khác nhau nhƣng tất cả đều có điểm chung là coi năng lực gắn với khả năng thực hiện, nghĩa là phải biết làm chứ không dừng ở mức hiểu. Vì vậy năng lực chính là khả năng vận dụng các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hiểu biết và sẵn sàng hành động của mình để giải quyết hiệu quả những vấn đề hay tình huống đƣợc đặt ra trong cuộc sống và học tập.
Năng lực có thể do bản năng, năng khiếu vốn có hoặc có thể đƣợc hình thành qua thời gian, học tập và từ nhiều kinh nghiệm tạo thành. Các loại năng lực Theo tác giả Đinh Quang Báo [1], bản chất của năng lực là “khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định”. Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa. Năng lực tồn tại dƣới hai hình thức: Năng lực chung và năng lực đặc thù.
Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu để cá nhân có thể tham gia hiệu quả vào nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội. Theo Chƣơng trình GDPT 2018 thì NL chung gồm NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực đặc thù là những năng lực có tính chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu của một lĩnh vực chuyên biệt nào đó. Theo Chƣơng trình GDPT 2018 thì NL đặc thù gồm NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL khoa học, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mĩ, NL thể chất.
Cụ thể ở trong lĩnh vực Vật Lí: - Năng lực sử dụng ngôn ngữ Vật Lí - Năng lực thực hành Vật Lí - Năng lực tính toán Vật Lí - Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn Vật Lí - Năng lực vận dụng kiến thức Vật Lí vào cuộc sống Năng lực đƣợc hình thành và phát triển trong và ngoài nhà trƣờng. Nhà trƣờng đƣợc coi là môi trƣờng chính thức giúp HS có đƣợc những năng lực cần thiết nhƣng đó không phải là nơi duy nhất. Những bối cảnh không gian không chính thức nhƣ: gia đình, cộng đồng, phƣơng tiện thông tin đại chúng, tôn giáo và môi trƣờng văn hóa … góp phần bổ sung và hoàn thiện năng lực cá nhân. Năng lực đƣợc hình thành và phát triển liên tục trong suốt cuộc đời con ngƣời vì sự phát triển năng lực thực chất là làm thay đổi cấu trúc nhận thức và hành động cá nhân chứ không đơn thuần là sự bổ sung các mảng kiến thức riêng rẽ.
Một số năng lực cần phát triển cho HS trƣờng THPT Để xác định các năng lực cho chƣơng trình giáo dục của một quốc gia cần dựa vào 3 yếu tố cơ bản sau: 7 - Thứ nhất: yêu cầu phát triển của đất nƣớc trong một giai đoạn cụ thể trong đó yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và đào tạo một thế hệ công dân đáp ứng đƣợc những thử thách trong tƣơng lai là quan trọng nhất. - Thứ hai: thực trạng năng lực của HS nói riêng và của ngƣời lao động nói chung của một đất nƣớc. - Thứ ba: xu thế quốc tế về phát triển năng lực cho HS trong nhà trƣờng nhằm đáp ứng thị trƣờng lao động. Xuất phát từ các yếu tố trên, mỗi nƣớc xác định hệ thống năng lực chung cho chƣơng trình giáo dục phổ thông của mình: Theo chƣơng trình giáo dục của Đức thống nhất đƣa ra các năng lực chính: Năng lực chuyên môn, năng lực phƣơng pháp, năng lực xã hội, năng lực cá nhân Theo chƣơng trình giáo dục của Úc: năng lực đọc hiểu, năng lực tính toán, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin Theo tổ chức OEDC gồm: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực xã hội, năng lực linh hoạt sáng tạo, năng lực sử dụng thiết bị thông minh Theo chƣơng trình Giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ giáo dục và đào tạo (2018) ở Việt Nam nhằm hình thành các phẩm chất và phát triển năng lực cho HS bao gồm 5 phẩm chất, 10 năng lực dƣới đây: Các phẩm chất: Các năng lực: - Yêu nƣớc Năng lực chung: - Nhân ái - Năng lực tự chủ và tự học + Yêu quý mọi ngƣời - Năng lực giao tiếp và hợp tác + Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi ngƣời - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo - Chăm chỉ Năng lực đặc thù: - Trung thực - Năng lực ngôn ngữ - Trách nhiệm - Năng lực tính toán + Có trách nhiệm với bản thân - Năng lực khoa học + Có trách nhiệm với gia đình - Năng lực công nghệ + Có trách nhiệm với nhà trƣờng và xã - Năng lực tin học 8 hội - Năng lực thẩm mỹ - Năng lực thể chất 1.2 Năng lực hợp tác 1.
Khái niệm NLHT Hợp tác là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống của con ngƣời, nó diễn ra thƣờng xuyên trong gia đình, xã hội. Do đó hợp tác mang bản chất sinh học tự nhiên của mỗi con ngƣời trong xã hội. Chúng ta cần hiểu rõ khái niệm và cách thức hợp tác hiệu quả để có thể phát huy tối đa những tiềm năng sẵn có trong mỗi con ngƣời. Theo từ điển tiếng Việt (1998), “Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm một mục đích chung” [10].
Theo từ điển Tâm lí học (2008): Hợp tác là hai hay nhiều bộ phận trong một nhóm cùng làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả chung [5]. Trong luận án tiến sĩ “Phát triển kĩ năng dạy học hợp tác cho GV trung học cơ sở”, tác giả Nguyễn Thành Kỉnh cho rằng: “Khái niệm hợp tác được hiểu là sự tự nguyện của các cá nhân cùng nhau làm việc một cách bình đẳng trong một tập thể (nhóm). Các thành viên trong nhóm tiến hành hoạt động nhằm mục đích và lợi ích chung, đồng thời đạt được mục đích và lợi ích riêng của mỗi thành viên trên cơ sở nỗ lực chung. Hoạt động của từng cá nhân trong quá trình tham gia công việc phải tuân theo những nguyên tắc nhất định và có sự phân công trách nhiệm cụ thể cho các thành viên trong nhóm” [9].