Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Một số nghiên cứu trên thế giới Dạy học hợp tác đã có từ rất lâu đời. Từ thời cổ đại, để đào tạo ra những con người lý tưởng, Khổng Tử đã đề xuất một hệ thống phương pháp giáo dục khá chặt chẽ, với những kiến giải sâu sắc.
Khổng Tử đã sử dụng nhiều phương pháp dạy học rất độc đáo, có thể khái quát lại như sau: Phương pháp đối thoại gợi mở, giảng dạy bằng cách trao đổi giữa thầy và trò, giữa người dạy và người học nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo và khoa học, khả năng tư duy của người học. Ở phương Tây vào thời Hy Lạp cổ đại, Aristotle là một nhà triết học và bác học nổi tiếng đã thành lập trường học được nhận xét là tiên tiến nhất trong thời kỳ đó. Ở đây, ông chỉ dạy học trò vào buổi sáng. Buổi chiều là những bài học “mềm”, khi đó thầy trò sẽ cùng nhau đi bộ trên những quãng đường dài, cùng quan sát, bàn luận và học hỏi từ những quan sát đó.
Đến thế kỉ XVII, Jan Amôt Komenxki (1592-1670) đã chú ý tới phương pháp học tập hợp tác từ việc giảng lại cho bạn bè và học từ bạn bè của mình. Năm 1878, hai nhà giáo dục người Anh là Ben và Lancanxto đã tiến hành hình thức dạy kèm cặp. Hình thức này gọi là "hệ thống kèm cặp". Còn Georg Michael Kerschensteiner cho rằng hoạt động chung trong nhóm không chỉ khơi dậy tinh thần trách nhiệm, ý thức của HS mà còn loại bỏ những động cơ ích kỉ.
Tác giả Roger Cousinet cho rằng hình thức tổ chức cho HS học tập tự do theo nhóm có ý nghĩa lớn. Hình thức đó giúp cho HS khả năng hòa hợp với cộng đồng, có thói quen làm việc không cần sự kiểm soát của GV, từ đó khắc phục được tình trạng lười suy nghĩ, biết xấu hổ với bạn khi không tham gia hay không hết lòng với công việc. John Dewey, nhà giáo dục Mỹ, được coi là người đầu tiên khởi xướng ra xu thế DHHT. Ông cho rằng vai trò của giáo dục là dạy cho con người cách sống hợp tác.
Slavin cho rằng DH theo nhóm giúp cải thiện rõ rệt cách tư duy của HS và sự nhận thức vấn đề tranh luận. Elliot Aronson với mô hình lớp học Jigsaw đầu tiên (1978) đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện các hình thức hợp tác trong DHHT. 4 c Tác giả Geoffrey Petty kết luận rằng thông qua học hợp tác nhóm, các em có thể đạt được những điều mà các em không thể làm được một mình. Keachie đã đề cập đến học tập đồng đẳng, học tập phối hợp, học tập hợp tác.
Tác giả đã chứng minh học tập hợp tác nhóm là một PP học tập hiệu quả.Ashman và Jan Telwel các tác giả làm nổi bật các cách khác nhau trong đó GV có thể hình thành các nhóm tương tác giữa các HS và khuyến khích HS bàn luận trong nhóm. Vai trò chính của GV trong việc thực hiện thực hành sư phạm và thúc đẩy tư duy. Năm 1979 tại Israel đã tổ chức hội nghị quốc tế đầu tiên về HTHT, Tại đây các tác giả David Johnson; Larry Sherman; Elliot Aronson và Richard Schmuck đã đưa ra giải pháp “Hợp tác học tập” và chỉ ra được bản chất, đặc điểm, cấu trúc, nguyên tắc của HTHT và chỉ ra được ưu, nhược điểm của từng cấu trúc của HTHT. Đặc biệt, chỉ rõ muốn học tập tốt học sinh phải có KNHTHT.
Đã có nhiều kỹ thuật DHHT nổi tiếng dựa trên cơ sở lý luận và thực nghiệm và được ứng dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới như: Kỹ thuật Puzzle Jigsaw (Aronson et al, 1978; Aronson, 2000), kỹ thuật Xung đột sáng tạo và thủ tục tranh cãi (Johnson & Smith,1987), kỹ thuật Nhóm điều tra (Sharan & Sharan, 1992), kỹ thuật TGT (Trò chơi giải đấu), kỹ thuật CIRC (Đọc hợp tác tích hợp và các thành phần), kỹ thuật DEC (Phản biện tiểu luận cặp đôi, Millis & Cottell năm 1998 và Millis Sherman & Cottell, 1993), kỹ thuật Chỉ dẫn phức tạp (Cohen, 1994). Slavin (1995) đã mô tả và hướng dẫn thực hiện các kỹ thuật này trong các trường học. Như vậy, qua các nghiên cứu PPDH trên thế giới cho thấy về tên gọi có đôi chút khác nhau nhưng về cơ bản DHHT đều lấy quan hệ hợp tác nhóm giữa HS với HS làm trung tâm để phát triển các mối quan hệ hợp tác giữa con người với con người; DHHT vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện, vừa là môi trường để học tập có hiệu quả [14]. Một số nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam ta, qua thời gian đúc kết kinh nghiệm học tập trong dân gian, ông cha ta có câu “học thầy không tày học bạn”, “đi một ngày đàng, học một sàng khôn” điều này cho thấy tư tưởng học tập hợp tác đã có từ lâu đời do những lợi ích của việc học tập từ thầy, bạn bè, từ người khác mang lại.
Trước đây DHHT theo nhóm ở nước ta đã diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau như: nhóm tự quản, nhóm đôi bạn cùng tiến, nhóm ngoại khóa, nhóm sinh hoạt câu lạc bộ. tuy nhiên đó chỉ là các phong trào tự phát, chưa có cơ sở khoa học vững chắc nên dần dần lắng xuống. 5 c Gần đây, với những yêu cầu về đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh, cùng với trào lưu hội nhập quốc tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu cũng như nhiều bài viết quan tâm tới DH mang tính hợp tác. DHHT được đề cập đến bởi các tác giả Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Văn Cường, Trần Bá Hoành, Nguyễn Bá Kim, Lâm Quang Thiệp, Thái Duy Tuyên.
Tác giả Nguyễn Hữu Châu (2007) trong “Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo giáo viên trung học cơ sở” đã đề cập đến DHHT và chỉ ra DHHT là cách dạy học trong đó học sinh trong lớp được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp, được giao nhiệm vụ và được khuyến khích thảo luận, hướng dẫn hợp tác làm việc với nhau để cùng đạt được kết quả chung là hoàn thành nhiệm vụ của cả nhóm [8]. Thái Duy Tuyên (2008) trong cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới” đã đi sâu nghiên cứu DHHT nhóm và xem đây là một trong những PPDH hiện đại nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Ông đã chỉ rõ khái niệm, tầm quan trọng của DHHT, những ưu nhược điểm của học hợp tác, những tính chất cơ bản của sự hợp tác trong học tập. Cũng trong Tạp chí giáo dục (số 81, tháng 1/2004), Lê Văn Tạc, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, cũng có bài nghiên cứu về vấn đề học hợp tác nhóm: Một số vấn đề về cơ sở lí luận học hợp tác nhóm.
Trong đó, tác giả bàn luận về những cơ sở lí luận của vấn đề học hợp tác nhóm như: khái niệm hợp tác, học hợp tác nhóm và các nguyên tắc học hợp tác nhóm, các cơ sở lí thuyết của học hợp tác nhóm, những công việc mà GV cần thực hiện trong các giờ học hợp tác nhóm. Lê Văn Tạc khẳng định: “Học hợp tác thực sự là một cách dạy học có hiệu quả nhằm tăng cường tính tích cực của trẻ” [21, tr. Như vậy, qua các nghiên cứu về DHHT của các tác giả trong và ngoài nước với các cách tiếp cận khác nhau và dưới các tên gọi khác nhau như: học tập nhóm nhỏ; dạy học hợp tác theo nhóm; học tập theo quan điểm tương tác người học - người học; giáo dục hợp tác. đều khẳng định DHHT vừa phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, nhằm đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ học tập, vừa phù hợp với xu thế phát triển của DH hiện đại.
Cơ sở khoa học của DHHT 1. Cơ sở triết học của DHHT Triết học duy vật biện chứng bao gồm những quy luật chung nhất về sự phát triển tự nhiên, xã hội và tư duy con người, vì vậy nó là cơ sở phương pháp luận cho các PPDH môn toán trong đó có DHHT. Triết học giúp chúng ta hiểu đúng đắn, sâu sắc và rõ bản chất về thế giới quan duy vật biện chứng ở học sinh và đưa ra các phương pháp giáo dục phù hợp với các quy luật phát triển, có sự liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, có sự mâu thuẫn và thống nhất, có sự biến đổi lượng - chất… Học là quá trình không ngừng nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn bên trong và bên ngoài. Điều đó tạo ra nội lực và ngoại lực thúc đẩy sự phát triển của bản thân người học.
Cơ sở để giải quyết mâu thuẫn đó là sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và tập thể, ý thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân trước tập thể. Mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và tập thể là cá nhân tồn tại trong tập thể, với tư cách là đơn vị cấu thành của tập thể. Quan hệ giữa cá nhân và tập thể là quan hệ lợi ích. Lợi ích hình thành nên sự liên kết giữa cá nhân và tập thể, sự thống nhất giữa tính khách quan và chủ quan trong quan hệ cá nhân và tập thể là điều kiện cần thiết để tập thể phát triển lớn mạnh.
Trong quá trình học tập, HS là chủ thể tích cực tự giác hoạt động học tập, có nhu cầu và động cơ học tập xuất phát từ bên trong khiến nảy sinh nhiều mối quan hệ giữa GV với HS, giữa HS với HS. Quá trình học tập dẫn đến sự hợp tác giữa các bạn cùng nhóm, cùng lớp. một cách khăng khít. Do đó có thể thấy được phương pháp DHHT dựa trên nguyên lý về mối liên hệ của phép duy vật biện chứng giữa cá nhân với tập thể và dạy học hợp tác nếu được tổ chức khéo léo sẽ kết hợp được hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể.
Thông qua dạy học hợp tác, mọi học sinh đều hoàn thành nhiệm vụ được giao, nghĩa là tập thể nhóm đạt được mục tiêu học tập của nhóm. Đồng thời, mỗi cá nhân thông qua hoạt động đó sẽ củng cố kiến thức, kĩ năng và chiếm lĩnh những tri thức khoa học mới. Cơ sở Giáo dục học của DHHT PPDH môn Toán nói chung và DHHT nói riêng là một bộ phận của quá trình giáo dục vì vậy phải dựa vào những thành tựu của Giáo dục học và ứng dụng sao cho phù hợp với thực tế , phải tuân theo những quy luật của giáo dục.