CHƯƠNG 1: ‘CƠ SỞ LÝ LUẬN’ VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm chung về NL Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở của các bản chất tự nhiên vốn có của cá nhân. Năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà phần lớn do công sức tập luyện, thói quen, kiến thức hình thành nên.
Theo John Erpnbeck: “Năng lực được xây dựng trên cơ sở trí thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc. Đặc biệt là khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí.” [11] Theo OECD thì NL là khả năng cá nhân đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp’ trong một bối cảnh cụ thể.’ Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi nhất trí với khái niệm năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Hình thành thông qua nội dung, phương pháp, kĩ thuật dạy học, kiểm tra đánh giá và tổ chức hoạt động dạy học và môi trường giáo dục; Thể hiện ở hiệu quả hoạt động. Năng lực chung và năng lực chuyên biệt.
Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Các năng lực này được ‘hình thành và phát triển dựa trên bản năng di tuyền vốn có của mỗi người, được hình thành qua quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng’ yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác 11 nhau. Những năng lực chung sẽ được nhà trường và giáo viên giúp các em học sinh phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông là: • Tự chủ và tự học • Kỹ năng giao tiếp và hợp tác nhóm với các thành viên khác. • Giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau một cách sáng tạo và triệt để.
Năng lực chuyên môn ‘là những năng lực được hình thành ‘và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù,’ cần thiết’ cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động. Đây cũng được xem như một năng khiếu, giúp các em mở rộng và phát huy bản thân mình nhiều hơn. NL giao tiếp toán học 1. Giao tiếp Giao tiếp là hành động truyền tải ý định, mong muốn của một chủ thể (có thể là một cá thể hay một nhóm) tới một chủ thể khác thông qua việc sử dụng các dấu hiệu, biểu tượng và các quy tắc giao tiếp mà cả hai bên cùng hiểu.
Tiếp nhận tín hiệu và lắp ráp lại thông điệp đã được mã hóa từ một chuỗi các tín hiệu đã nhận được. Theo Đặng Thị Thủy - giao tiếp là khả năng trình bày, diễn đạt những suy nghĩ, “quan điểm, nhu cầu, mong muốn cảm xúc của bản thân” dưới hình thức nói, viết hoặc sử dung ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp đối với đối tượng giao tiếp. “Môn toán là môn học thích hợp ‘để phát triển giao tiếp bởi vì: “Phương thức giao tiếp toán học và tư duy toán học “rất cần thiết cho cuộc sống tương lai.” Toán học là một ngôn ngữ đặc biệt bao gồm các từ, bảng biểu, hình vẽ, biểu đồ, kí hiệu. Khi học sinh đươc thử thách để suy nghĩ tìm tòi và lý giải một vấn đề toán học và trình bày kết quả bằng cách viết hoặc nói, 12 tranh luận thì kiến thức của học sinh sẽ vững vàng và việc học sẽ hiệu quả hơn rất nhiều.
Khi đó, chúng ta sẽ thu được 2 thành quả: HS giao tiếp để học toán và HS phát triển kĩ năng giao tiếp toán học. Chúng ta dựa vào đó để có cơ sở đánh giá khả năng hiểu vấn đề của HS và tạo điều kiện cho HS thể hiện bản lĩnh về toán học của mình. Giao tiếp toán học Có thể nói GTTH giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong trường học. GTTH là một hình thức của giao tiếp mà một người cố gắng để thuyết phục những người khác về những ý tưởng, suy nghĩ, câu hỏi hay giả thuyết toán học của mình nhằm chia sẻ ý tưởng và làm rõ sự hiểu biết về những vấn đề toán học đó.’ ‘Thông qua thảo luận và đặt câu hỏi, các ý kiến toán học được phản ánh, thảo luận và chỉnh sửa.
Quá trình HS lập luận, phân tích một cách có hệ thống giúp các em củng cố kiến thức và hiểu biết toán một cách sâu sắc hơn. Thông qua giao tiếp, học sinh giải quyết vấn đề hiệu quả hơn, có thể lý giải các khái niệm toán học và có kỹ năng giải toán [12]. Mô hình giao tiếp toán học Theo Emori “Trong mô hình GTTH theo nghĩa rộng, giao tiếp toán học theo ‘nghĩa hẹp’ ‘và “những hoạt động tích hợp’ trong toán học bao gồm: giải quyết vấn đề, lập luận và chứng minh, biểu diễn”.1) Giao tiếp toán học Giao tiếp Hoạt động toán Lập luận và Biểu diễn Giải quyết vấn đề chứng minh Hình 1. Mô hình giao tiếp toán học.
13 Và theo Brenner “Giao tiếp toán học có 3 khía cạnh khác nhau: giao tiếp về toán, giao tiếp trong toán, giao tiếp với toán”. - Giao tiếp về toán: ‘đề cập đến quá trình HS suy nghĩ, giải quyết vấn đề đưa ra và HS nêu được lý do tại sao chọn phương án, cách làm đó để giải quyết bài toán. - Giao tiếp trong toán: đề cập đến việc HS sử dụng ngôn ngữ, các ký hiệu, hình vẽ và các biểu diễn toán học nào là hợp lý với vấn đề đặt ra. - Giao tiếp với toán: đề cập đến việc HS sử dụng kiến thức toán để giải quyết vấn đề theo cách hiểu của HS.
Như vậy, có thể hiểu giao tiếp toán học là sự tương tác giữa GVvới HS và HS với HS, thông qua hoạt động giao tiếp bằng lời nói, cử chỉ, hành động và sử dụng ngôn ngữ hàng ngày. NL toán học Quan niệm thuộc khuôn khổ chương trình đánh giá HS quốc tế PISA (2003) về năng lực toán học: Năng lực toán học là khả năng của một cá nhân có thể nhận biết và hiểu vai trò của toán học trong đời sống, phán đoán và lập luận dựa trên cơ sở vững chắc, sử dụng và hình thành niềm đam mê tìm tòi, khám phá toán học để đáp ứng những nhu cầu trong đời sống của cá nhân đó. Một định nghĩa khác cũng theo PISA (2005) : Năng lực toán học là khả năng của một cá nhân biết lập công thức, vận dụng và giải thích toán’ học trong nhiều ngữ cảnh.’ ‘Nó bao gồm suy luận toán học và sử dụng các khái niệm, phương pháp, sự việc và công cụ để mô tả, giải thích và dự đoán các hiện tượng. [2] Trần Luận [6] ‘cho rằng: ‘Năng lực toán học là những đặc điểm tâm lý đáp ứng được nhu cầu hoạt động toán học và tạo điều kiện lĩnh hội các kiến thức, kĩ năng trong lĩnh vực toán học tương đối nhanh, dễ dàng và sâu sắc trong những điều kiện như nhau.Cruchetxki: Những năng lực toán học được hiểu là những đặc điểm tâm lí cá nhân đáp ứng yêu cầu của hoạt động học tập toán, và trong điều kiện vững chắc như nhau thì là nguyên nhân của sự thành công trong việc nắm vững một cách sáng tạo toán học với tư 14 cách là môn học, đặc biệt nắm vững tương đối nhanh, dễ dàng, sâu sắc kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo trong lĩnh vực toán học Qua các tìm hiểu trên cho thấy hai quan niệm thuộc khuôn khổ chương trình đánh giá HS quốc tế PISA thể hiện sự quan tâm rõ nét tới những hiểu biết toán học và sự vận dụng nó trong đời sống.
Trần Luận và V.Cruchetxki quan tâm nhiều hơn đến thuộc tính tâm lý của năng lực toán học, việc vận dụng toán học vào đời sống không được đề cập tới. Cấu trúc NLTH, đã được nhiều công trình nghiên cứu đưa ra cấu trúc NLTH cho HS, một số nghiên cứu nổi bật: Theo V.Cruchetxki, cấu trúc NLTH của HS gồm các thành phần: ‘thu nhận thông tin toán học, chế biến thông tin toán học, lưu trữ thông tin toán học, thành phần tổng hợp chung. Kôlmôgôrôv, trong các thành phần của năng lực toán học có: năng lực biến đổi thông minh, tinh tế, khéo léo những biểu thức chữ phức tạp thành các dạng toán đã học; năng lực tìm các con đường giải phương trình không theo quy tắc chuẩn; trí tưởng tượng hình học hay “trực giác hình học”; nghệ thuật suy luận lôgic theo các bước được phân chia một cách đúng đắn, đặc biệt là hiểu và có kỹ năng vận dụng đúng đắn nguyên lý quy nạp toán học. NL toán học của học sinh phổ thông Việt Nam bao gồm các thành tố cốt lõi sau: năng lực tư duy và lập luận toán học là khả năng thực hiện thành thạo các thao tác tư duy, đặc biệt biết quan sát, tìm kiếm sự tương đồng và khác biệt trong nhiều tình huống và biết khẳng định kết quả của việc quan sát.
Biết lập luận hợp lí khi giải quyết vấn đề. Biết rút ra kết luận từ giả thiết đã cho. Chứng minh được mệnh đề toán học không quá phức tạp; năng lực mô hình hoá toán học là khả năng sử dụng được các mô hình toán học (gồm công thức toán học, sơ đồ, bảng biểu, hình vẽ, phương trình, hình biểu diễn.) để mô tả các tình huống đặt ra trong các bài toán thực tế không quá phức tạp. Giải quyết các vấn đề toán học đặt ra trong mô hình được thiết lập.
Biết thể hiện và đánh giá lời giải toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học là khả năng nhận biết phát hiện được vấn đề cần giải quyết; xác định, giải thích thông tin. Xác định cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề. Sử dụng các kiến 15 thức, kĩ năng toán học tương thích để giải quyết vấn đề. Giải thích giải pháp đã thực hiện; tạo dựng một hiểu biết rõ rệt về giải pháp đó; Biết làm việc với văn bản toán học.