Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH LỚP 8 TRONG DẠY HỌC NHÓM BÀI HÀNH ĐỘNG NÓI 1. Lý thuyết về hành động nói Thuật ngữ “hành động nói” (speech acts - còn được dịch là “hành vi ngôn ngữ”, “hành động ngôn ngữ”, “hành động phát ngôn”) là loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ. Thuật ngữ này đã từ triết học đi vào ngôn ngữ học và gợi mở một hướng nghiên cứu ngôn ngữ mới là đi sâu vào phương diện giao tiếp đạt hiệu quả cao của ngôn ngữ với tư cách cái chức năng quan trọng nhất, do đó mà ngôn ngữ sinh ra và phát triển. Về phương diện thực tiễn hành động nói hiển nhiên bao nhiêu thì về phương diện lí thuyết có lẽ nó cũng gây bấy nhiêu rắc rối.
Ở đây, chúng tôi đưa ra quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban về vấn đề này. Về một cách hiểu hành động nói Trong phạm vi khuôn khổ của đề tài, chúng tôi không đặt nhiệm vụ với toàn bộ việc nghiên cứu hành động nói, mà chỉ đề cập một cách hiểu có khả năng ứng dụng tốt vào việc dạy tiếng. Đó là cách hiểu lấy hành động ngôn trung (còn được dịch là hành động ở lời, hành vi ở lời) làm trọng. Theo cách hiểu đó thì hành động nói nói chung và hành động ngôn trung được định nghĩa chung là thứ hành động được thực hiện trong khi nói ra một cái gì, nói cách khác, hành động nói là hành động được thực hiện bằng ngôn ngữ khi nói ra một cái gì, hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ.
Theo Austin, nói năng là hành động của con người, khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành vi đặc biệt mà phương 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiện là ngôn ngữ. Theo ông, có ba loại hành vi ngôn ngữ trong một phát ngôn đó là hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời. Trong ba loại hành vi này thì hành vi ở lời là đối tượng cần nghiên cứu, mà hiểu theo nghĩa hẹp thì hành vi ngôn ngữ chính là hành vi ở lời. Theo Austin thì hành vi ở lời có năm phạm trù: - Phán xử (Verditives): là hành động đưa ra những lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc những lý lẽ vững chắc như xét xử, tính toán, miêu tả, phân loại… - Hành xử (Exercitives): là hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hoặc chống lại một chuỗi hành động nào đó như ra lệnh, chỉ huy, cầu khiến, bổ nhiệm, đặt tên… - Cam kết (Commissives): là những hành vi ràng buộc người nói vào một chuỗi hành động nào đó như hứa, giao ước, đảm bảo, thề nguyền… - Ứng xử (Behabitives): là những hành vi phản ứng với cách sử sự của người khác đối với các sự kiện có liên quan, hoặc biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận của người khác như xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn, thách thức, nghi ngờ… - Trình bày (Expositives): là những hành vi dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng định, phủ định, từ chối, trả lời, phản bác… Song, trong công việc dạy tiếng không cần thiết phải đặt ra vấn đề phân biệt trong hành động nói ba kiểu hành động khác nhau (hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời) mà J.Austin đã thực hiện.
Theo tinh thần đó, ở đây tên gọi hành động sẽ được dùng chung với tên gọi hành động ngôn trung. Cách hiểu như thế này có lẽ bắt đầu từ J.Searle (1976) khi ông nói rằng sự phân loại hành động ngôn trung của ông cũng có thể coi là sự phân loại hành động nói và 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện nay cũng thấy trong Từ điển bách khoa Ngôn ngữ và Ngôn ngữ học (1994) do R.Asher chủ biên (Tập 10). Trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ số hành động nói quả thật khá nhiều và hình như chưa ai đưa ra một danh sách đóng của những hành động nói. Thế nhưng trong việc dạy tiếng thì kết luận của J.Searle sau đây là đáng được tham khảo: ““Kết luận quan trọng nhất”: Phần lớn các trò chơi ngôn ngữ, hay các cách sử dụng ngôn ngữ không phải là vô hạn và không phải là không xác định.
Ảo giác về tính vô hạn trong cách dùng ngôn ngữ được đẻ ra do quá mù mờ đối với việc lập ra những tiêu chuẩn khống chế đối với những trò chơi ngôn ngữ khác nhau hoặc đối với những cách dùng ngôn ngữ khác nhau. Nếu như thừa nhận rằng động từ ngôn trung là cơ sở tụ tập chung quanh mình những cách thức khác nhau trong việc sử dụng ngôn ngữ, thì sẽ thấy rằng số lượng những hành động khác nhau mà chúng ta thực hiện được nhờ ngôn ngữ khá là hạn chế; chúng ta báo cho người khác về tình trạng của sự việc; chúng ta cố gắng buộc người khác làm một việc gì đó; chúng ta biểu lộ tình cảm và thái độ của mình; cuối cùng chúng ta nhờ phát ngôn mà biến đổi thế giới đang tồn tại. Năm hành động nói mà tác giả khám phá ra được là: - Hành động biểu hiện (Representives) còn gọi là trình bày, khảo nghiệm, thông tin miêu tả, xác tín. Lớp này gồm các hành vi như: kể, tự sự, miêu tả, mách, tường thuật, báo cáo, thuyết minh, lập biên bản, tường trình, tố cáo, khai, khai báo… - Hành động điều khiển (Directives, bao gồm cả hành động Hỏi): các hành vi thuộc lớp này là: ra lệnh, sai, sai khiến, bảo, yêu cầu, đề nghị, xin phép, cho phép, chỉ, khuyên, chỉ thị, kiến nghị, khuyến nghị, chỉ định, hỏi, tra… 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Ước kết (Comissives): các hành vi thuộc lớp này là: hứa, cam đoan, cam kết, hẹn, giao ước, bảo đảm, thỏa thuận, thề… - Hành động biểu lộ (Expresives): các hành vi thuộc lớp này là: cảm thán, than thở, thán phục, trầm trồ, cảm ơn, xin lỗi, lấy làm tiếc, ân hận, khen, chê… - Sự tuyên bố (Declarations): các hành vi thuộc lớp này là: tuyên bố, tuyên án, buộc tội, kết tội, từ chức, khai trừ… Để có được năm lớp hành động trên, J.Searle đã tìm ra 12 tham biến mà ông cho là ít nhất, trong số đó các tham biến sau được coi là cơ bản: - Đích ngôn trung (đích ở lời) hay là ý định của người nói.
- Hướng khớp ghép giữa lời và vật. - Trạng thái tâm lí của người nói hay là điều kiện chân thành trong những tiêu chuẩn được nêu ra trước đó của chính tác giả. - Nội dung mệnh đề. Quả thực trên thực tế các tiêu chuẩn này của J.Searle giúp ích được rất nhiều cho việc xác định hành động nói.
Về cách diễn đạt hành động nói Nói chung chung về hành động nói thì không phải là quá khó. Và thực sự là mỗi người biết nói hầu như đều tự mình thực hiện hành động nói một cách đúng đắn và thường xuyên trong mỗi câu mình nói ra. Nhưng thực sự việc xác định tên gọi của một hành động nói nào đó thì không đơn giản. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra tiêu chuẩn cho việc miêu tả các hành động nói, và dùng nó để xác định được một câu nào đó đang diễn đạt hành động nói nào.
Tiêu chuẩn đó như sau: Một là, chính J.Searle đã căn cứ vào Nguyên tắc Cộng tác của Grice mà nêu lên 10 bước trong quá trình xác định một hành động nói gián tiếp. Hai là, riêng trong lĩnh vực hành động điều khiển W.John (1963) đã đề nghị 6 phạm trù của các phát ngôn, bao gồm: 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (1) Hôm nay nóng. -> Điển thể cấu trúc. (3) Tôi lạnh quá.
-> Điển thể (thuộc) kí hiệu. (4) Có vẻ cái áo lông anh mặc ấm quá nhỉ. -> Điển thể trắc đạc. Các tác giả khác, cũng trên con đường tìm kiếm những cách diễn đạt lời thỉnh cầu, đã đề nghị những chiến lược làm thành chín bậc gián tiếp hóa hành động nói, bao gồm trong các chiến lược trực tiếp (direct strategies), các chiến lược gián tiếp theo quy ước (conventionally indirect strategies) và các chiến lược gián tiếp không quy ước (nonconventionally indirect strategies).
Nhìn chung, tất cả các phương sách nêu trên đều chủ yếu dựa vào sự hiểu biết tinh tế của người nói trong quá trình thực hiện hành động nói, tức là dựa vào mặt tinh thần, chưa có loại tiêu chuẩn hình thức nào khả dĩ mô hình hóa được phương diện cái biểu hiện của quá trình thực hiện hành động nói. Phân lớp khái quát các hành động nói theo kiểu câu phân loại theo mục đích nói Ngoài những hành động nói quen thuộc và dễ nhận biết như xin lỗi, cảm ơn, mời, chào… những hành động nói khác có thể phân loại theo kiểu câu trình bày (hay còn gọi là câu trần thuật), câu cầu khiến và câu cảm thán. Trên cơ sở đó có thể nói một câu nào đó là thuộc kiểu câu trình bày, hay thuộc kiểu câu nghi vấn… căn cứ vào phạm trù thức của động từ trong ngôn ngữ biến hình từ cùng với những quy tắc tạo lập câu nghi vấn, câu cảm thán… Trong những ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt ở lĩnh vực này các kiểu câu cũng có những dấu hiệu hình thức nhất định của chúng. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiến xa hơn một bước nữa thì có thể sử dụng hiện tượng được gọi là câu ngôn hành (còn gọi là câu ngữ vi, câu hành ngôn) nhưng tùy đối tượng học mà có thể tìm cách gọi theo lối miêu tả cụ thể hơn.
Trên cơ sở đó có thể nói đến hai cách diễn đạt hành động nói: - Diễn đạt bằng hình thức trực tiếp. - Diễn đạt bằng hình thức gián tiếp. (1) Cách diễn đạt hành động nói bằng hình thức trực tiếp. Cách thực hiện hành động nói dưới hình thức trực tiếp được dùng nhiều trong quan hệ thân mật, suồng sã và trong quan hệ của người hàng trên đối với người hàng dưới.
Trong giao tiếp quy thức và trong quan hệ kính trọng, cách dùng này có hạn chế hơn và thường có kèm những từ tiểu tình thái và cách xưng hô làm cho hình thức diễn đạt mềm dịu hơn và thêm sắc thái kính trọng. Ví dụ: + Cháu mời bác xơi cơm ạ. + Thưa bác, chỗ này có ai ngồi chưa ạ? + Bác làm ơn chở cháu ra ga tàu với ạ.