Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN MÔI TRƯỜNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giao tiếp và giao tiếp sư phạm 1. Nghiên cứu về giao tiếp Vấn đề giao tiếp được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Có thể khái quát các hướng nghiên cứu chính về giao tiếp như sau: Thứ nhất là các nhà khoa học theo quan điểm coi giao tiếp là một hình thức hoạt động của con người. Quan điểm này do Leonchiev A. khởi xướng vào thập kỉ 30 của thế kỉ XX [49]. Ông cho rằng nội dung cơ bản của hoạt động là một quá trình thực hiện sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực: Chủ thể - Khách thể hay là: Chủ thể - Đối tượng.
Rất nhiều nhà khoa học như: Đavalova, Đavưdov… đã kế thừa quan điểm GT là một hình thức của hoạt động, các nhà khoa học đã áp dụng quan điểm trên vào nghiên cứu một số lĩnh vực của đời sống con người và đạt được những thành tựu. Nhưng quan điểm này lại có nhiều hạn chế ở chỗ khó xác định động cơ, vai trò, kết quả của giao tiếp và đôi khi trong thực tế chỉ có thể coi giao tiếp là điều kiện hoặc là một khía cạnh của hoạt động. Thứ hai: Nghiên cứu theo quan điểm coi giao tiếp là một phạm trù độc lập với hoạt động: Quan điểm này được Lômôv B. khởi xướng từ thập kỉ 70 của thế kỉ XX.
[Dẫn theo 47] cho rằng giao tiếp là hình thức độc lập và đặc thù của tính tích cực của chủ thể, là hình thái đặc trưng của sự tác động qua lại giữa người này và những người khác như là tác động qua lại của các chủ thể, Ông cũng khẳng định rằng giao tiếp chịu sự quy định của các yếu tố xã hội như chức năng, vị trí, quy tắc, chuẩn mực đạo đức. Thứ ba là các nhà khoa học nghiên cứu giao tiếp dưới cách tiếp cận coi giao tiếp là một quá trình truyền thông tin. Có nhiều công trình nghiên cứu theo hướng này, đại diện là: Wiener (1948), Sene (1949), Moles (1971), Perdonici- nhà nghiên cứu về giao tiếp trẻ em và cộng sự (1963) [Dẫn theo 16] cho rằng giao tiếp là một quá trình trao đổi hai chiều, một quá trình khép kín, vấn đề tổ chức kênh để cho con đường liên lạc thực hiện được phần nhiệm vụ của nó trong giao tiếp. Mặc dù có nhiều đóng góp nhưng các nghiên cứu lại ít chú ý tới vấn đề cơ chế tâm lý của sự truyền tải thông tin trong quá trình truyền và nhận thông tin.
7 Thứ tư là các nghiên cứu về giao tiếp của học sinh. Vấn đề giao tiếp của học sinh cũng rất được quan tâm nghiên cứu bởi các nhà khoa học: Leonchiev [49], Levitov H. Các nhà công trình nghiên cứu cho thấy vai trò quan trọng của giao tiếp trong việc học tập rèn luyện của học sinh. Như vậy, qua bốn hướng nghiên cứu về giao tiếp, các nhà khoa học đã sớm thấy được vai trò quan trọng của giao tiếp đối với sự phát triển nhân cách con người.
Giao tiếp được coi là một dạng hoạt động, là một quá trình truyền, trao đổi thông tin giữa con người với con người. Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung vào các thành tố trong quá trình giao tiếp và chức năng truyền thông tin của giao tiếp mà chưa chú ý nghiên cứu những yếu tố xuất phát từ chính chủ thể giao tiếp như: tâm lý cá nhân, xu hướng, động cơ, thái độ, nền văn hóa, xã hội…Những nghiên cứu về giao tiếp ở các nước ngoài trải qua lịch sử đã thể hiện sự tiến bộ và phù hợp với những yêu cầu của xã hội không ngừng phát triển. Nhấn mạnh về khía cạnh phát triển các kỹ năng giao tiếp xã hội, kỹ năng ứng xử, biểu lộ tình cảm trong các mối quan hệ xã hội và trong học tập, đây là hướng nghiên cứu đem lại cho người học những kỹ năng và tri thức mới mẻ có thể vận dụng hàng ngày trong cuộc sống của họ. Ở Việt Nam vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ những năm 1980 đến nay, có nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học.
Nhìn chung các nghiên cứu theo các hướng như sau: Hướng thứ nhất: Nghiên cứu về giao tiếp nói chung cho các đối tượng. Tiêu biểu là các tác giả: Tạ Ngọc Ái, Đặng Hưng Kỳ, Nguyễn Quốc Bảo, Nguyễn Minh Hoàng (2008) [1], Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc (2007) [4], Nguyễn Văn Đồng (2011) [16], Nguyễn Văn Lê với các nghiên cứu: Vấn đề giao tiếp [47], giao tiếp sư phạm (2006) [45], Nguyễn Văn Đồng (2011), Tâm lý học giao tiếp [21]…Trong những công trình nghiên cứu này các tác giả đã phân tích chỉ ra các vấn đề cơ bản về GT như: định nghĩa, phân loại, bản chất, chức năng, vai trò của GT, các phương pháp nghiên cứu GT, văn hóa giao tiếp, phương pháp GT đạt hiệu quả, các phương tiện truyền thông đại chúng phục vụ cho GT của con người… Hướng thứ hai: Nghiên cứu về GT của con người ở các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau. Các nghiên cứu về giao tiếp nhằm mục đích tổ chức tốt quá trình GT để đạt được hiệu quả công việc cao trong các lĩnh vực nghề nghiệp, cũng như trong cuộc sống. Có thể kể tới các tác giả: Nguyễn Trọng Điều, Đinh Văn Tiến, Hoàng Văn Hoa, Trần Thị Vân Hoa.
8 Tác giả Nguyễn Trọng Điều, Đinh Văn Tiến (2002) [14] đã tập trung nghiên cứu đặc điểm của giao tiếp và đưa ra một số kỹ năng giao tiếp cần thiết trong quản lý hành chính. Cũng theo hướng nghiên cứu này tác giả Nguyễn Đình Tấn (2004) [73] nghiên cứu về giao tiếp trong quản lý hành chính Nhà nước ở Việt Nam hiện nay, tác giả phân tích chức năng, đặc điểm giao tiếp trong hoạt động hành chính. Nghiên cứu của tác giả Hoàng Văn Hoa, Trần Thị Vân Hoa (2012) [28] về giao tiếp trong kinh doanh đã cung cấp những kiến thức và những kỹ năng giao tiếp cơ bản trong môi trường kinh doanh năng động và toàn cầu hóa, giúp người học nắm bắt được bản chất và các hình thức giao tiếp trong kinh doanh và những công cụ quan trọng để rèn luyện và nâng cao kỹ năng giao tiếp hiệu quả …Hai tác giả Nguyễn Văn Đính, Nguyễn Văn Mạnh (2012) [17] trong cuốn "Tâm lý và nghệ thuật giao tiếp ứng xử trong kinh doanh du lịch” đã nghiên cứu làm rõ những tri thức lý luận về giao tiếp trong du lịch, các kỹ năng giao tiếp có hiệu quả giữa người phục vụ (nhân viên) và khách tiêu dùng du lịch (khách du lịch). Như vậy có rất nhiều nghiên cứu về GT trong các lĩnh vực nghề nghiệp đa dạng trong cuộc sống, các nghiên cứu đều hướng về việc cung cấp các tri thức lý luận và cách thức tổ chức giao tiếp để đạt hiệu quả cao trong các nghề nghiệp.
Qua đây cho thấy vai trò rất quan trọng của giao tiếp trong cuộc sống của con người. Hướng thứ ba: Nghiên cứu về giao tiếp của học sinh, sinh viên. Các tác giả nghiên cứu theo xu hướng tiếp cận tìm hiểu những đặc điểm, những khó khăn trở ngại học sinh gặp phải trong giao tiếp, đề ra các biện pháp giáo dục phát huy tính tích cực giao tiếp cho học sinh nhằm phát triển môi trường và kỹ năng giao tiếp như: Hoàng Anh (1992) [2] trong nghiên cứu về “Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên” đã phân tích bản chất, chức năng, vai trò của giao tiếp và giao tiếp sư phạm, nghiên cứu về hiện trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của SV, từ đó đề xuất chương trình rèn luyện cụ thể nhằm bộc lộ và hình thành kỹ năng giao tiếp sư phạm cho sinh viên các trường Đại học sư phạm. Nguyễn Thanh Bình (1996) [6] trong công trình “Nghiên cứu một số trở ngại tâm lý trong giao tiếp của sinh viên đối với học sinh khi thực tập tốt nghiệp” tác giả nghiên cứu và chỉ ra một số trở ngại cơ bản về mặt tâm lý của SV khi thực tập tốt nghiệp, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tháo gỡ những trở ngại nêu trên.
Trong một nghiên cứu khác (1998) [7, tr. 29 - 33] "Tìm hiểu một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên" tác giả đã làm rõ một số kỹ năng GTSP và đưa ra các biện pháp phát triển kỹ năng GTSP cho SV. Như vậy 9 tác giả đã chỉ ra được vai trò quan trọng của giao tiếp và kỹ năng giao tiếp trong học tập, và trong thực tập sư phạm của SV. Phùng Thị Hằng (2007) [26] đã nghiên cứu phân tích về đặc điểm giao tiếp của đối tượng học sinh THPT là người dân tộc như: đặc điểm, nhu cầu, phạm vi, đối tượng giao tiếp.từ đó phân tích những khó khăn tâm lý học sinh thường gặp khi giao tiếp.
Ngô Giang Nam (2012) với nghiên cứu “Giáo dục kỹ năng giao tiếp cho học sinh Tiểu học Nông thôn miền Núi phía Bắc” [59]… đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn làm rõ những đặc điểm giao tiếp của học sinh Tiểu học vùng nông thôn miền núi phía Bắc. Từ đó đề xuất những biện pháp giáo dục khắc phục những khó khăn mà các em thường mắc phải và phát triển những kỹ năng giao tiếp cho học sinh tiểu học. Qua những công trình nghiên cứu trên đây ta thấy các tác giả đều thấy được vai trò quan trọng của giao tiếp đối với hoạt động học tập của học sinh, đã nghiên cứu và làm sáng tỏ về đặc điểm giao tiếp của trẻ em ở các môi trường và độ tuổi khác nhau như: mẫu giáo, tiểu học, đối với học sinh dân tộc thiểu số, học sinh sống ở vùng nông thôn điều kiện kinh tế còn hạn chế…Tuy nhiên các nghiên cứu chưa đi sâu vào phân tích làm sáng tỏ môi trường giao tiếp của các đối tượng là trẻ em, và làm sao để tạo một MTGT tốt nhất để các em tiến hành giao tiếp, tiếp thu kinh nghiệm xã hội để phát triển nhân cách. Tóm lại: Qua những nghiên cứu về giao tiếp ở nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống ta thấy được vai trò quan trọng của giao tiếp với sự hình thành nhân cách con người.
Tuy nhiên chúng tôi thấy rằng hầu hết các công trình nghiên cứu cứu của các tác giả nhấn mạnh tới khía cạnh các đặc điểm như: nội dung, phạm vi, đối tượng, kỹ năng giao tiếp …chưa có công tình nào đi sâu nghiên cứu chỉ ra những thành tố của MTGT và đưa ra những biện pháp nhằm phát triển MTGT.2 Nghiên cứu về giao tiếp sư phạm Giao tiếp của con người diễn ra trong các lĩnh vực khác nhau mang sắc thái khác nhau.