Mở đầu và kết thúc không có lời lời kết thúc bài thúc bài nói một câu chuyện hợp lý kết thúc bài nói. cách hấp dẫn. Sau khi nói Người nghe Người nói Trao đổi về bài nói với bạn để góp ý, Lắng nghe, phản hồi, tiếp thu những ý xây dựng. Có thể trao đổi một số nội kiến của người nghe : dung như: + Tiếp thu những ý kiến góp ý mà mình + Nội dung câu chuyện.
cho là hợp lý. + Điều hấp dẫn, thú vị của câu chuyện + Giải thích thêm những sự việc, chi tiết + Những sự việc, chi tiết còn chưa mà người nghe còn chưa rõ. hiểu trong bài quá trình bạn kể. + Nêu bài học, lời khuyên rút ra từ câu + Ý nghĩa của câu chuyện.
chuyện 13 Phiếu đánh giá nói Họ và tên học sinh:…………………. Bài nói: Kể về:…………………. Mức đánh giá : Rất tốt, tốt, bình thường, chưa tốt. Kết quả khảo sát Tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng kỹ năng nói của học sinh lớp 4 tại trường trường TH Hòa Bình 1, TH Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên – Hải Phòng theo yêu cầu của chương trình GDPT 2018.
Khảo sát 70 học sinh ở tại 2 lớp 4A1 trường TH Hòa Bình1 và 4A3 của TH Kênh Giang, tác giả thu được kết quả như sau: Bảng 1.1: Bảng đánh giá thực trạng kỹ năng nói của học sinh lớp 4 tại trường TH Hòa Bình 1, TH Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên Mức độ đánh giá STT Nội dung Rất tốt Tốt Bình thường Chưa tốt SL % SL % SL % SL % Nói rõ ràng 1 12 17,1% 18 25,7% 25 35,7% 15 21,4% mạch lạc Tập trung vào 2 10 14,3% 15 21,4% 20 28,6% 25 35,7% mục đích và đề tài 3 Thái độ tự tin 11 15,7% 14 20,0% 22 31,4% 23 32,9% Biết sử dụng 4 10 14,3% 19 27,1% 18 25,7% 23 32,9% ngôn ngữ cơ thể Nói được đề tài 5 khi có phương 12 17,1% 13 18,6% 25 35,7% 20 28,6% tiện hỗ trợ Kể lại được sự việc đã tham gia và chia sẻ cho 6 9 12,9% 14 20,0% 16 22,9% 31 44,3% người nghe được cảm xúc, suy nghĩ về sự việc đó Trình bày được lý 7 lẽ để củng cố nhận 10 14,3% 15 21,4% 14 20,0% 31 44,3% định cá nhân Trung bình cộng 15,1% 22,0% 28,6% 34,3% 14 Biểu đồ 1.1: Tổng hợp đánh giá mức độ kỹ năng nói của học sinh lớp 4 tại trường TH Hòa Bình 1, TH Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng Căn cứ vào thực trạng khảo sát ta thấy, tổng kết mức độ đánh giá về kỹ năng nói của học sinh lớp 4 thì mức độ đánh giá Rất tốt đạt 15,1%, tỷ lệ Tốt đạt 22%, tỷ lệ mức độ Bình thường là 28,6% và tỷ lệ Chưa tốt là 34,3%. Các mức độ đánh giá có kết quả chênh lệch nhau khá lớn ở mức độ Rất tốt, Tốt với Chưa tốt. Trong các yêu cầu về kỹ năng nói theo chương trình GDPT 2018 đối với lớp 4 thì yêu cầu về việc “Kể lại được sự việc đã tham gia và chia sẻ cho người nghe được cảm xúc, suy nghĩ về sự việc đó” và “Trình bày được lý lẽ để củng cố nhận định cá nhân” là có tỷ lệ học sinh ở mức độ Chưa tốt là cao nhất 44,3%; đây là những yêu cầu nâng cấp về kỹ năng nói đối với học sinh lớp 4. Yêu cầu về “Nói rõ ràng, mạch lạc” trong kỹ năng nói của học sinh lớp 4 đạt tỷ lệ Rất tốt và Tốt cao nhất.
Tuy nhiên, tỷ lệ Chưa tốt của các yêu cầu vẫn cao, trung bình là trên 30%, như vậy kỹ năng nói của các học sinh còn yếu, cần phải có biện pháp để phát triển kỹ năng nói cho các em. Thông qua khảo sát bằng các hình thức quan sát (dự giờ), phiếu hỏi đối với 70 HS đang học lớp 4 ở 02 trường TH Hòa Bình 1 và TH Kênh Giang trên địa bàn thành phố Hải Phòng, ở tại 2 lớp 4A1 trường TH Hòa Bình 1 và 4A3 của TH Kênh Giang, tác giả đã thu được những kết quả nhằm bước đầu nhận định và đánh giá thực trạng việc phát triển kỹ năng nói của HS ở trường Tiểu học (lớp 4) hiện nay như sau: 15 Bảng 1. Kết quả khảo sát thực trạng dạy học phát triển kỹ năng nói (đối với học sinh) Câu hỏi khảo sát Câu trả lời của HS Kết quả (%) Em đánh giá việc phát triển Rất quan trọng 12,9% (9/70) kỹ năng kỹ năng nói có Quan trọng 52,8% (37/70) quan trọng không? Không quan trọng 34,3% (24/70) Em đánh giá việc phát triển Rất khó 37,2% (26/70) kỹ năng nói như thế nào? Khó 51,4% (36/70) Dễ 11,4% (8/70) Em có quan tâm và nắm được Có - một cách đầy đủ 24,3% (17/70) các tiêu chí đánh giá một bài Có – một cách chung chung 47,1% (33/70) nói trong tiết Luyện nói không? Không 28,6% (20/70) Em có nắm được các bước để Có - một cách đầy đủ 25,7% (18/70) chuẩn bị bài Luyện nói Có – một cách chung chung 50% (35/70) không? Không 24,3% (17/70) Em có thường xuyên phát Thường xuyên 20% (14/70) biểu, nêu quan điểm của Thỉnh thoảng 57,1% (40/70) mình trước cả lớp không? Không bao giờ 22,9% (16/70) Em có thường xuyên đánh giá, nhận xét bài nói, quan Thường xuyên 0% (0/70) điểm của bạn cùng lớp không? Thỉnh thoảng 25,7% (18/70) Không bao giờ 74,3% (52/70) Điểm số 50% (35/70) Sau mỗi bài học Luyện nói Sự tiến bộ của bản thân 28,6% (20/70) em quan tâm tới điều gì? Không quan tâm 21,4% (15/70) Em có cảm thấy hào hứng Rất hào hứng 14,3% (10/70) mỗi khi học bài Luyện nói Bình thường 50% (35/70) không? Không hào hứng 35,7% (25/70) 16 Trước tiên, tác giả thấy đa số học sinh cho rằng việc phát triển kỹ năng nói khó/rất khó và đồng ý rằng đây là một hoạt động quan trọng/rất quan trọng trong kỹ năng giao tiếp. Mặt khác, 34,3% (24/70) học sinh đánh giá hoạt động này là không quan trọng.
Với số lượng học sinh không hứng thú với tiếng Việt ngày càng tăng, con số này không quá ngạc nhiên. Qua nghiên cứu, tác giả cũng nhận thấy vấn đề lĩnh hội lý luận, về thuật ngữ “ kỹ năng nói” của học sinh còn rất hời hợt, khái quát. Khả năng nói chỉ được dạy cho học sinh thông qua luyện nói, mà các chủ đề của bài nói thường không liên quan gì đến thực tế và luyện nói theo các chủ đề, sự việc không quen thuộc của cuộc sống hàng ngày. Nó cũng đòi hỏi sự mạch lạc, kết nối, sử dụng câu hợp lý và không sử dụng các từ ngẫu nhiên.
Điều này khiến các em chán nản, thờ ơ với việc học và dần dần lúng túng, hoang mang. Phần lớn các em nói như viết (viết ra giấy, học thuộc lòng, lên lớp đọc), không thể vận dụng kết hợp, dẫn đến lời nói kém thuyết phục, kém hiệu quả. Khi giáo viên yêu cầu học sinh làm bài, học sinh chép và hoàn thành bài văn mẫu. Vì giáo viên và học sinh không quan tâm nên giờ dạy nói được tiến hành rất hình thức.
Học sinh cũng không quan tâm đến các bước trình bày một bài nói trước lớp, nhiều học sinh chỉ quan tâm đến điểm số của sản phẩm hơn là tiến độ giao tiếp của bản thân đến đâu. Có một thực tế mà tác giả quan sát được, đó là lên lớp lớn, các em càng ngại nói, ngại phát biểu trước tập thể. Dù biết câu trả lời, biết đáp án học sinh cũng không giơ tay phát biểu, nhiều em đứng lên phát biểu nhưng lắp bắp không dám nhìn cô giáo, không giao lưu với các bạn. Có trường hợp học sinh không nói được trước đám đông, không sắp xếp được câu văn để phát biểu ý kiến.
Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học phát triển kỹ năng nói cho học sinh lớp 4 theo chương trình GDPT 2018 2. Mục tiêu khảo sát Mục đích điều tra của tác giả là tìm hiểu thực trạng của việc dạy học phát triển KNN của học sinh lớp 4. Như vậy, đề tài xác định những khó khăn, thuận lợi của giáo viên trong việc phát triển KNN của học sinh; khảo sát mức độ hiểu biết về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm phát triển kỹ 17 năng nói của học sinh lớp 4. Nội dung khảo sát Đề tài tập trung khảo sát các nội dung cụ thể sau: - Nhận thức của GV về tầm quan trọng của dạy học phát triển kỹ năng nói cho HS lớp 4.
- Thực trạng phương pháp dạy học phát triển kỹ năng nói cho HS lớp 4. - Những khó khăn mà giáo viên thường gặp trong quá trình dạy học phát triển kỹ năng nói cho HS lớp 4. Phương pháp khảo sát - Phương pháp dự giờ giờ học luyện nói ở các lớp 4. - Phương pháp phỏng vấn: tác giả tiến hành phỏng vấn trực tiếp một số GV và trao đổi thêm với nhiều GV khác về vấn đề phát triển kỹ năng nói ở HS lớp 4.
Đối tượng khảo sát Để khảo sát quan điểm của các giáo viên cần thiết của việc phát triển dạy học kỹ năng nói đối với học sinh lớp 4 theo chương trình GDPT 2018, tác giả đã tiến hành khảo sát đối với 30 giáo viên ở 2 trường trên địa bàn bằng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: 20 giáo viên trường Tiểu học Kênh Giang và 10 giáo viên trường Tiểu học Hòa Bình 1, huyện Thủy nguyên, thành phố Hải Phòng. Kết quả khảo sát Bảng 1.3: Khảo sát quan điểm của các giáo viên về mức độ cần thiết của việc dạy học phát triển kỹ năng nói đối với HS lớp 4 theo CTGDPT 2018 Mức độ đánh giá STT Nội dung Không Rất cần thiết Cần thiết Bình thường cần thiết SL % SL % SL % SL % Sự cần thiết của việc phát 1 10 33,3% 18 60,0% 2 6,7% 0 0,0% triển kỹ năng nói ở học sinh Sự cần thiết của việc dạy 2 8 26,7% 20 66,7% 2 6,7% 0,0% học phát triển kỹ năng nói Trung bình cộng 30,0% 63,3% 6,7% 0,0% 18 Qua bảng trên ta có thể thấy hầu hết các giáo viên đều nhận thức được sự cần thiết của việc phát triển kỹ năng nói và dạy học phát triển kỹ năng nói cho học sinh lớp 4 theo chương trình GDPT 2018 (Tỷ lệ Rất cần thiết và Cần thiết là 93,3%), tuy nhiên vẫn còn giáo viên cho rằng chưa cần thiết lắm, vì các em còn nhỏ, không cần quá quan trọng việc phát triển kỹ năng nói cũng như dạy phát triển kỹ năng nói, đồng thời cho rằng sẽ khó áp dụng vào việc giảng dạy.