Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội. Chương 2: Biện pháp phát triển kĩ năng hợp tác cho học sinh lớp 3 trong dạy học môn Tự nhiên và Xã hội. Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO HỌC SINH LỚP 3 TRONG DẠY HỌC MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI 1.
Kĩ năng Thực tế, có nhiều quan niệm về kĩ năng, mỗi quan niệm lại được diễn đạt theo cách khác nhau Theo N.Lêvitôp nhà tâm lí học Liên Xô thì: Kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó trong một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định. [4] Ông cho rằng, người có KN hành động là người nắm vững và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện những hành động có kết quả. Ông còn nói thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm vững lí thuyết về hành động mà phải vận dụng vào thực tế Bên cạnh đó, theo từ điển Văn hóa Giáo dục Việt Nam: “Kĩ năng là loại hành động có ý thức, dựa vào sự hiểu biết về cách thức tiến hành công việc nào đó. Đó là giai đoạn trung gian giữa tri thức và kĩ xảo trong quá trình nắm vững một phương thức hành động.
Kĩ năng hình thành do luyện tập, bắt chước.” [7] Như vậy, kĩ năng là năng lực hay khả năng vận dụng kiến thức, tri thức, kĩ thuật hoặc các thao tác để thực hiện hành động theo quy trình. Kĩ năng sống * Khái niệm kĩ năng sống Cũng như khái niệm kĩ năng, kĩ năng sống cũng được định nghĩa, diễn đạt theo nhiều cách khác nhau Theo quan niệm của tổ chức văn hóa, khoa học giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO): KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (learning to know) gồm các kỹ năng tư duy như: tư duy phê 6 phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,…; Học làm người (Learning to be) gồm các kỹ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…; Học để sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm (Learning to do) gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kỹ năng đặt mục tiêu và đảm nhận trách nhiệm…[12] Tổ chức y tế thế giới (WHO) lại cho rằng: “KNS là những kỹ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn khoẻ mạnh. Đó là những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống hàng ngày” [12, tr.
Theo Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEF, 1996), “KNS bao gồm những kỹ năng cốt lõi như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu” [12, tr. Từ những khái niệm trên, có thể cho thấy kĩ năng sống bao gồm các kĩ năng cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người. Bản chất của kĩ năng sống là khả năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Kĩ năng sống không phải tự nhiên mà có, phải qua quá trình trau dồi, hình thành thông qua hoạt động học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống.
Qúa trình hình thành kĩ năng sống được diễn ra trong và ngoài hệ thống giáo dục. Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, là khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. Mang tính cá nhân bởi mỗi cá nhân sẽ có những khả năng riêng.
Mang tính xã hội bởi nó 7 phụ thuộc vào các giai đoạn của lịch sử, chịu sự tác động ảnh hưởng của giá trị truyền thống của gia đình, dân tộc. * Phân loại kĩ năng sống Có rất nhiều cách phân loại KNS và việc phân loại chỉ có tính chất tương đối. Thực tế cho thấy, các KNS không tách rời nhau mà liên quan chặt chẽ với nhau. Tùy theo quan niệm KNS mà có nhiều cách phân loại KNS khác nhau: Đầu tiên chúng ta tìm hiểu cách phân loại của UNESCO Kỹ năng nhận thức Kỹ năng đương Kỹ năng xã hội hay Bao gồm: KN tư đầu với xúc cảm: kỹ năng tương tác: duy phê phán, KN Bao gồm KN kiềm Bao gồm KN giao giải quyết vấn đề, chế căng thẳng, tiếp; KN thương KN ra quyết định, kiềm soát cảm thuyết / từ chối; KN KN tự nhận thức về xúc, KN tự quản lắng nghe tích cực, bản thân, KN đặt lý, tự giám sát và KN hợp tác, v.v… mục tiêu, KN xác tự điều chỉnh … định giá trị… Như vậy, UNESCO đã chia KNS thành 3 nhóm tương ứng với quá trình tâm lý là KN nhận thức, KN đương đầu với xúc cảm, KN xã hội với các KNS tương ứng.
Theo cách phân loại của UNESCO thì 3 nhóm trên được coi là các nhóm KNS chung, ngoài ra còn có những KNS còn thể hiện trong những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội như: vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng; các vấn đề về giới tính, giới tính, sức khỏe sinh sản; ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS; sử dụng rượu, thuốc lá và ma túy; phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ; văn hóa, ngôn ngữ và công nghệ… 8 Bên cạnh cách phân loại trên, còn có cách phân loại của UNICEF. Với mục đích là giúp cho người đọc có những KN ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF đã đưa ra cách phân loại theo các mối quan hệ như sau: Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình gồm: Kỹ năng tự nhận thức; lòng tự trọng, sự kiên định; đương đầu với cảm xúc; đương đầu với căng thẳng. Kỹ năng nhận biết và sống với người khác bao gồm: Kỹ năng quan hệ / tương tác liên nhân cách; sự cảm thông; đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác; thương lượng giao tiếp có hiệu quả. Kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả bao gồm các kỹ năng: Tư duy phê phán; tư duy sang tạo; ra quyết định; giải quyết vấn đề.
Tóm lại, theo UNESCO, WHO, UNICEF có thể xem KNS gồm các KN cốt lõi sau: - KN giải quyết vấn đề. - KN suy nghĩ/tư duy phê phán. - KN giao tiếp hiệu quả. - KN ra quyết định.
- KN tư duy sáng tạo. - KN ứng phó với căng thẳng … 9 Ở nước ta, KNS thường được phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau: - KN nhận biết và sống với chính mình gồm: KN tự nhận thức; xác định các giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin … - KN nhận biết và sống với người khác bao gồm: KN giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông; hợp tác … - KN ra quyết định một cách hiệu quả bao gồm: các KN tìm kiếm và xử lý thông tin, tư duy phê phán, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề … Trên đây chỉ là một số trong các cách phân loại KNS. Tuy nhiên, mọi cách phân loại đều chỉ mang tính tương đối. Trên thực tế, các KNS thường không hoàn toàn tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ với nhau.
Kĩ năng hợp tác • Khái niệm * Hợp tác Theo từ điển Tiếng Việt (1997) :“ Hợp tác là cùng chung sức giúp nhau trong một công việc, một kĩnh vực hoạt động nào đó nhằm đạt được mục đích chung” [7] Theo từ điển Tâm lý học (2008) : “Hợp tác là hai hay nhiều bộ phận trong một nhóm cùng làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả chung” [2] Từ những định nghĩa trên có thể nhận thấy hợp tác có những dấu hiệu cơ bản sau: - Có mục đích chung trên cơ sở mọi người cùng có lợi. - Công việc được phân công phù hợp với năng lực của từng người. - Bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nguồn lực và thông tin, tự nguyện hoạt động. 10 - Cùng chung sức, giúp đỡ hỗ trợ, khích lệ tinh thần tập thể và bổ sung cho nhau.
- Cùng làm những việc chung. * Kĩ năng hợp tác Kĩ năng hợp tác là khả năng làm việc, học tập với những người khác, đóng góp cho tập thể những ý tưởng để thực hiện phần nhiệm vụ của mình, một phần nhiệm vụ của nhóm, lắng nghe, hỗ trợ và chia sẻ “ một cách hợp lí” với các thành viên khác trong nhóm, giải quyết sự khác biệt vì lợi ích tập thể. Kĩ năng hợp tác là khả năng hoạt động một cách thành thạo, linh hoạt trong quá trình hợp tác với nhau để giải quyết một nhiệm vụ nào đó. * Vai trò của kĩ năng hợp tác KNHT có một vai trò quan trọng đối với đời sống con người trong bối cảnh hiện nay.
- Mỗi người đều có những điểm mạnh và hạn chế riêng. Sự hợp tác trong công việc giúp mọi người hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo nên sức mạnh trí tuệ, tinh thần và thể chất, vượt qua khó khăn, đem lại chất lượng và hiệu quả cao hơn cho công việc chung. - Trong xã hội hiện đại, lợi ích của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều phụ thuộc vào nhau, ràng buộc lẫn nhau; mỗi người như một chi tiết của cỗ máy lớn, phải vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, không thể hành động đơn lẻ. - KNHT còn giúp cá nhân sống hài hòa và tránh xung đột trong quan hệ với người khác.
* Biểu hiện của kĩ năng hợp tác KNHT cũng như tất cả các KNS khác đều có biểu hiện riêng của nó. Theo cuốn Giáo dục KNS trong các môn ở Tiểu học, các tác giả đã khẳng định KNHT có 6 biểu hiện cơ bản.