phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về kinh tế xanh Chƣơng 2. Thực trạng phát triển kinh tế xanh của Ấn Độ Chƣơng 3. Phát triển kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh ở Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ Ấn Độ có thể vận dụng vào Việt Nam 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH 1.
Một số khái niệm về kinh tế xanh và phát triển bền vững 1. Khái niệm kinh tế xanh Khái niệm “kinh tế xanh” ra đời vào năm 2008 từ Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) khởi xướng. Tại thời điểm này, thế giới đang phải đối mặt với các khủng hoảng về khí hậu, sinh thái tự nhiên, thiếu hụt lương thực, nước sạch và khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 - 2009. Sau đó, các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Liên minh Châu Âu (EU), Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF)., và nhiều diễn đàn quốc tế đã hướng đến bàn và thảo luận về chủ đề kinh tế xanh, coi đây là một trong những giải pháp khắc phục suy thoái đang gặp phải [3].
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) định nghĩa “kinh tế xanh” (Green Economy) “là một nền kinh tế hướng tới mục tiêu cải thiện đời sống của con người và tài sản xã hội, đồng thời chú trọng giảm thiểu những hiểm họa môi trường và sự khan hiếm tài nguyên” [3]. Tổ chức sáng kiến Tăng trưởng xanh của Liên hợp quốc (GEI) cho rằng phát triển kinh tế theo hướng tăng trưởng xanh thông qua quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và cơ sở hạ tầng với mong muốn thu được kết quả toàn diện hơn từ các nguồn đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính; đồng thời giảm thiểu tối đa hiệu ứng nhà kính, sử dụng và khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tạo ra ít chất thải nhằm bảo vệ môi trường và giảm thiểu sự mất công bằng trong xã hội [29]. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) tăng trưởng xanh là đẩy mạnh phát triển kinh tế và tăng trưởng, đồng thời nguồn tài sản tự nhiên không bị dần cạn kiệt và an toàn với môi trường, nhằm đảm bảo nguồn cung 5 cấp cần thiết cho cuộc sống con người. Để thực hiện điều này, việc đầu tư và đổi mới cần phải có nhân tố tác động từ các chiến lược của tăng trưởng xanh nhằm tiến đến sự phát triển toàn diện và bền vững, thúc đẩy và tạo dựng thêm nhiều cơ hội kinh tế mới [29].
Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng gắn với việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hạn chế các tác động xấu của môi trường đến con người [29]. Theo Ủy ban Liên hợp quốc về Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương (UNESCAP), có 6 nội dung chính của tăng trưởng xanh đó là: (i) sản xuất và tiêu dùng bền vững; (ii) xanh hóa thị trường và các hoạt động sản xuất kinh doanh; (iii) xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững; (iv) cải tổ thuế và ngân sách xanh; (v) đầu tư/bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái; (vi) xây dựng và thực hiện các chỉ số hiệu quả về sinh thái [19]. Ngoài ra, các nguyên tắc đối với tăng trưởng xanh bao gồm: (i) Tăng trưởng xanh phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế được thể hiện qua chỉ tiêu gia tăng của GDP gắn liền với đảm bảo phúc lợi xã hội, phân phối công bằng giữa các tầng lớp dân cư; (ii) tăng trưởng xanh phải đảm bảo hiệu quả sinh thái của tăng trưởng kinh tế; (iii) tăng trưởng xanh phải kiểm soát ô nhiễm môi trường, đạt được các mục tiêu về môi trường thông qua cải thiện điều kiện sản xuất và tiêu dùng. Khái niệm “kinh tế xanh” cho đến nay còn nhiều cách hiểu và cách gọi khác nhau (các nước phương Tây xác định là mô hình kinh tế xanh, các nước đang phát triển hướng đến chiến lược tăng trưởng xanh, Trung Quốc tiến hành chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế với nội hàm phát triển xanh và xây dựng văn minh sinh thái làm trọng điểm, mô hình ở Thái Lan có tên gọi là “nền kinh tế đầy đủ”.
Ngoài khái niệm “kinh tế xanh”, các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển còn quan tâm hơn tới khái niệm “tăng trưởng xanh” do mục đích tăng trưởng luôn được đặt lên hàng đầu đối với các nền kinh tế này. 6 Về các khái niệm tăng trưởng xanh và kinh tế xanh có nhiều định nghĩa, tựu chung các quan điểm, nhận thức thống nhất là: Kinh tế xanh cùng với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường là ba trụ cột của phát triển bền vững và là sự lựa chọn tốt nhất cho sự phát triển bền vững của các quốc gia. Kinh tế xanh là nền kinh tế thân thiện với môi trường, dựa vào năng lượng sạch, giảm phát thải khí nhà kính để giảm thiểu biến đổi khí hậu; là nền kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu, hao tổn ít nhiên liệu, đổi mới công nghệ, tăng cường các ngành công nghiệp sinh thái; hướng đến mục đích là tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo và phát triển công bằng [5]. Khái niệm phát triển bền vững Khái niệm “phát triển bền vững” được phổ biến rộng rãi vào năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” (Our common future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Định nghĩa này được nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới thừa nhận và được sử dụng rộng rãi vì nó mang tính khái quát hoá cao về mối quan hệ dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường, từ đó tạo ra phát triển bền vững [5]. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): “Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép một quá trình sản xuất với bảo toàn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai”.
Định nghĩa này đã đề cập cụ thể hơn về mối quan hệ ràng buộc giữa khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại với hệ quả đáp ứng nhu cầu tương lai, thông qua phương thức phát triển 7 kinh tế - xã hội nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường [5]. Mục tiêu của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các con người, sự đồng thuận của xã hội và là sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; hay nói cách khác đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sống của con người: (i) Phát triển bền vững về mặt kinh tế phải có thể tạo ra hàng hoá và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của Chính phủ và nợ nước ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; (ii) Phát triển bền vững về mặt xã hội phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục, bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi công dân; (iii) Phát triển bền vững về môi trường phải duy trì nền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinh hay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không tái tạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ, điều này bao gồm việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác [5]. Mối quan hệ giữa kinh tế xanh và phát triển bền vững Tăng trưởng kinh tế nhanh mà không quan tâm đến vấn đề môi trường và xã hội nhờ lạm dụng quá mức các nguồn lực từ tự nhiên đã không còn phù hợp, phát triển kinh tế xanh đang trở thành xu hướng để đưa nền kinh tế sau một giai đoạn suy giảm trở nên tăng trưởng theo chiều sâu và bền vững. Để đạt được mục tiêu này, cần có những cải tiến, phương thức mới cho đầu tư và 8 các sáng kiến để tạo ra những mô hình phát triển kinh tế mới trước thời kỳ ứng phó với khủng hoảng kinh tế, tài nguyên và biến đổi khí hậu [1,Tr.
Kinh tế xanh hướng đến nền kinh tế mà con người là trung tâm, tăng trưởng phúc lợi cho người dân và công bằng xã hội; bao gồm những yếu tố đem lại sự cân bằng, thỏa mãn tính bền vững (hoạt động kinh tế đem lại lợi nhuận, các giá trị có ích lợi to lớn nhằm hướng đến phát triển cuộc sống, xã hội, con người đồng thời gắn liền với môi trường). Kinh tế xanh là tiến trình phát triển bền vững cần thiết của các nước trên thế giới hiện nay [3;24]. Việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh có hai con đường chính: Các nước phát triển có thể chuyển đổi sang nền kinh tế xanh do có điều kiện tài chính, nguồn nhân lực và công nghệ thông qua đầu tư, phát triển những lĩnh vực mới trong nền kinh tế giúp phát triển xã hội, môi trường bền vững; trong khi đó, các nền kinh tế đang phát triển phải tốn nhiều chi phí và thời gian hơn bằng cách điều chỉnh dần dần để nền kinh tế truyền thống trở nên thân thiện hơn với môi trường. Hiện nhiều nước đang đi tiên phong trong việc xây dựng nền kinh tế xanh (như Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc.), với các biện pháp chính là: Tăng đầu tư và chi tiêu trong các lĩnh vực thúc đẩy phát triển kinh tế xanh: năng lượng, giao thông, xây dựng, nông nghiệp, du lịch, văn hóa, xử lý chất thải.