Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế tư nhân 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại kinh tế tư nhân 1. Khái niệm kinh tế tư nhân Thuật ngữ “kinh tế tư nhân” luôn gắn liền với vấn đề sở hữu.
Do đó, để hiểu sâu sắc hơn về kinh tế tư nhân, điều tiên quyết phải hiểu rõ nội hàm về sở hữu tư nhân. Sở hữu là một phạm trù kinh tế nhưng cũng gắn liền với các hình thái chính trị. Mỗi giai đoạn khác nhau, cách tiếp cận về sở hữu cũng khác nhau. Nhưng tựu trung lại, sở hữu thể hiện mối tương quan giữa người với người trong quá trình thiết lập quyền chiếm hữu những của cải trong xã hội cũng như các tư liệu sản xuất.
Như vậy, sở hữu không chỉ bao gồm quan hệ con người chiếm hữu TLSX, của cải xã hội, mà còn quan hệ giữa người và người trong quá trình diễn ra sự chiếm hữu đó hay quá trình tích lũy tư bản và của cải. Từ đó, có thể phân biệt giữa sở hữu của cải cá nhân (nhà ở, đồ dùng cá nhân) và sở hữu TLSX. Lênin cho rằng việc hình thành cũng như sự tồn tại và phát triển của một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần là tất yếu và phù hợp với xu thế phát triển khách quan của xã hội. Cùng với đó, ông nhận định rằng: ở một giới hạn nào đó chủ nghĩa tư bản là một bước đi tất yếu và không thể tránh khỏi khỏi xu hướng phát triển chung và tương ứng với xu hướng đó, sở hữu tư nhân và KTTN bắt buộc có sự tồn tại.
Cũng bởi vậy, kết cấu KTXH hiện hữu thời kỳ này bao gồm các thành phần sau: Nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên; sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó đại đa số nông dân bán lúa mỳ), CNTB tư nhân; CNTB nhà nước; CNXH [34, tr. Tuy đã khái quát 5 thành phần kinh tế của nước Nga như vậy, song Lênin cho rằng trong quá trình đi lên CNXH tại các nước khác nhau, số lượng và tỷ trọng các 11 thành phần kinh tế tồn tại ở các nước đó không nhất thiết phải giống nhau, trong những thời kỳ lịch sử khác nhau. Ông cũng cho rằng, xem xét dưới góc độ các thành phần kinh tế trọng yếu, nêu chia ra làm 3 loại, đó là: Thành phần kinh tế XHCN, thành phần kinh tế tư bản tư nhân và thành phần kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ. Có thể thấy, trong các nghiên cứu của mình, Lênnin đã cho thấy được tính động và mở trong quá trình thiết lập các thành phần tham gia vào nền kinh tế.
Từ đó, phải quan niệm và xác định mỗi nước trong thời kỳ quá độ có bao nhiêu thành phần kinh tế, phải tùy thuộc vào trình độ phát triển của mối quan hệ biện chứng giữa QHSX và LLSX của từng nước trong giai đoạn lịch sử cụ thể. Và trong cơ cấu kinh tế đó, là một mối quan hệ hỗ tương, không thể tách rời, là một một kiểu liên kết xã hội đặc biệt, mỗi thành phần đều có những đóng góp nhất định, vừa thống nhất và cũng vừa mâu thuẫn, tương tác và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển. Trên nền tảng nghiên cứu của Lê-nin, vận dụng trong thực tiễn vận động và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đặc biệt là giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945, Bác Hồ đã khẳng định: Nền kinh tế nước ta (vùng tự do) còn tồn tại nhiều loại hình kinh tế và được thể hiện khá rõ trong tác phẩm “Thường thức chính trị” của Người. Theo đó, Người cho rằng tồn tại 6 hình thái kinh tế khác nhau trong quá trình phát triển, đó là: (1) Kinh tế tư bản quốc gia (hình thức nhà nước và tư nhân cùng làm kinh tế).
(6) Kinh tế nông hộ của các hộ cá nhân, nhỏ lẻ. Trong đó, do kinh tế quốc doanh sẽ giữa vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế (và đến ngày nay quan điểm này vẫn còn được duy trì) và chiếm một cơ 12 cấu lớn trong cơ cấu nền kinh tế theo thành phần. Và do đó, bản chất của chúng ta là đi theo con đường CNXH chứ không thể là TBCN. Có thể thấy, không chỉ riêng Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã thừa nhận các thành phần kinh tế là sự tồn tại tất yếu và lâu dài.
Người cho rằng, sự nghiệp xây dựng CNXH không của riêng ai mà là của toàn dân và vì lợi ích của toàn dân tộc. Chính vì vậy, việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát triển kinh tế, việc thừa nhận một nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận sự tồn tại của nó cũng chính là một cách thức để gia tăng tính hiệu quả và nhanh chóng đi lên chủ nghĩa xã hội. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn khẳng định: Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ của nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, phụ thuộc vào năng lực quản lý và trình độ phát triển của nền kinh tế nên việc phân chia các thành phần kinh tế, xem xét tầm quan trọng của mỗi thành phần yêu cầu đặt ra là cần phù hợp với bối cảnh và xu hướng phát triển của lịch sử giai đoạn đó.
Nội dung của Nghị quyết Hội nghị Trung ương thể hiện rõ: KTTN là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Việc Phát triển KTTN không phải là việc làm một sớm một chiều mà là vấn đề có tầm nhìn lâu dài trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, từ đó là nền tảng hướng đến mối quan tâm hàng đầu là sự thịnh vượng của một quốc gia, một dân tộc, nâng cao hơn nữa năng lực hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, làm cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa quốc gia nhanh chóng thành công, mang lại những giá trị vẻ vang cho nhân dân, cho đất nước. Xem xét dưới góc độ các thành phần cấu thành, kinh tế tư nhân hội tụ các thành phần cơ bản sau: doanh nghiệp tư nhân (chiếm tỷ lệ lớn trong KTTN); các hộ gia đình tiểu thủ công nghiệp; các hộ gia đình buôn bán nhỏ lẻ. Chúng đều thuộc hình thức sở hữu tư nhân, tương ứng với nó là hình thức kinh doanh gắn liền với trình độ phát triển của LLSX.
13 Với cách hiểu rộng hơn, kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế trong đó do người dân trong xã hội làm chủ các hoạt động kinh doanh. Dưới góc độ này, KTTN bao hàm cả thành phần tư nhân trong nước và các doanh nghiệp FDI với hình thức liên doanh vốn 100%. Dưới góc độ tiếp cận này sẽ cho thấy khá cụ thể những lợi thế phát triển của thành phần KTTN tuy nhiên trong thực tế sẽ gây ít nhiều khó khăn trong việc thống kê các giá trị bởi khó xác định được phần góp vốn trong liên doanh. Ở phạm vi hẹp hơn: khi xem xét đến thành phần kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế ngoài nhà nước, không do nhà nước quản lý và điều tiết kinh tế và cũng không bao gồm thành phần kinh tế có yếu tố nước ngoài cho dù là hình thức liên kết như thế nào.
Do đó, để thuận tiện hơn trong việc thống kê dữ liệu, với cách phân loại này thì nền kinh tế được chia ra làm 3 khu vực cụ thể, đó là: (1) DN quốc doanh; (2) DN ngoài quốc doanh và (3) DN có vốn đầu tư nước ngoài. Tại Đại hội Đảng lần thứ X, nhận thức về KTTN một lần nữa được nêu ra trong đó xác định rõ nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế mà cùng lúc sẽ tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau trên cơ sở tồn tại nhiều thành phần kinh tế,bao gồm : KTNN, Kinh tế tập thể ; KTTN ( bao gồm cá thể hộ tiểu chủ và tư bản tư nhân ), Kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Có thể thấy rằng, nhìn nhận về vai trò cũng như chức năng và thành phần tham gia vào KTTN ở nước ta có sự đổi thay khác nhau ở từng thời kỳ. Tựu chung lại, có thể hiểu: KTTN là loại hình kinh tế mà ở đó có sự tư nhân hóa trong quá trình sở hữu tư liệu sản xuất, bao gồm nhiều thành phần với các trình độ sản xuất và quy mô sản xuất khác nhau đi từ nhỏ đến lớn như quy mô hộ gia đình đến các hình thức tiểu chủ cũng như các doanh nghiệp tư nhân.
Hiện nay, nhìn nhận về KTTN ở nước ta, bao hàm 2 thành phần sau: Thứ nhất, thành phần kinh tế "cá thể” hay kinh tế tiểu chủ: thường sản xuất với quy mô nhỏ, chủ yếu tận dụng sức lao động từ gia đình nhưng đã có tư hữu nhỏ về TLSX. 14 Thứ hai: theo Nguyễn Thanh Vân (2018) kinh tế "tư bản tư nhân": quy mô lớn hơn so với kinh tế cá thể dưới góc độ sở hữu tư liệu sản xuất, không chỉ sử dụng lao động trong gia đình mà với quy mô lớn, đã thuê mướn thêm nhân công để mở rộng năng lực sản xuất. Kinh tế tư bản tư nhân tồn tại dưới các loại hình doanh nghiệp như: doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần và công ty hợp danh. Trên phương diện pháp luật, từ luật doanh nghiệp 2005 cho đến luật doanh nghiệp 2015.
Dựa theo hình thức góp vốn và tỷ trọng góp vốn khác nhau mà các loại hình công ty sau vẫn được xác định là thành phần thuộc kinh tế tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân: đây là loại hình doanh nghiệp do cá nhân tự chủ trong các quyết định về hình thức sản xuất, tiêu thù, họ tự bỏ vốn ra để đầu tư kinh doanh và chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả kinh doanh của chính họ. Công ty trách nhiệm hữu hạn: có thể có một hoặc nhiều thành viên tham gia vào hình thức doanh nghiệp cho nên trong thực tế có thể chia ra làm 2 loại: (1) TNHH một thành viên và (2) TNHH nhiều thành viên. Họ có trách nhiệm về các khoản nợ cũng như các quyền lợi, nghĩa vụ tài sản mà họ đã bỏ ra góp vào hình thành nên doanh nghiệp.