eat ISSN 1859 - 1124 — TẠP CHÍ NĂM THỨ 26 - SÓ 9 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH Phattrien kinhte Tổng biên tập Phó Tổng biên tập DƯƠNG THỊ BÌNH MINH ĐINH PHI HỔ Thư ký Toà soạn NGUYÊN TRUNG ANH TÔN CHÍ & MỤC ĐÍCH Tạp chí Phát triển Kinh tế (PTKT) của Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh được xuất bản từ năm 1990 với mã số ISSN 1859-1124, phát hành từ ngày 01 đến ngày 0Š hàng tháng. Tạp chí PTKT được xây dựng theo các tiêu chí của một tạp chí nghiên cứu khoa học hàn lâm quốc tế. Mục tiêu của tạp chí PTKT là góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học kinh tế, các chuyên gia và các nhà quản lý kinh tế, giảng viên đại học kinh tế, nghiên cứu viên kinh tế; công bồ và phố biến các kết quả nghiên cứu khoa học kinh tế ở trong và ngoài nước.
Phạm vi nghiên cứu của tạp chí bao gồm các vấn đẻ về lý thuyết và thực tiễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế của Việt Nam và thế giới: kinh tế học, quản trị kinh doanh, tài chính ngân hàng, tăng trưởng và phát triển kinh tế vĩ mô và vi mô theo hướng phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế. Những bài viết nghiên cứu gửi đến tạp chí sẽ được phản biện bởi các chuyên gia kinh tế đầu ngành, những nhà khoa học nghiên cứu kinh tế có uy tín ở trong và ngoài nước nhằm đảm bảo chuẩn mực và tăng cường giá trị nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm của các bài báo khoa học kinh tế. Tạp chí PTKT hợp tác, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước về các lĩnh vực: phản biện, viết bài, trao đổi học thuật, trợ giúp kỹ thuật và phát hành. HOI DONG BIEN TAP Jonathan Batten, Dai hoc Monash, Uc Trần Hoàng Ngân, Đại học Tài chính - Marketing Ramaprasad Bhar, UNSW Australian Phạm Duy Nghĩa, Đại học Kinh tế TP.HCM Business School, Sydney, UC phan Thị Bích Nguyệt, Đại học Kinh tế TP.HCM Hoàng Thị Chỉnh, Đại học Kinh tế TP.HCM Nguyễn Đông Phong, Đại học Kinh tế TP.HCM Mai c Cường, Đại h inh tế Quốc đâ.
; ai Ngo ng, Đại học K - ụ .Senanayake, Dai hoe Colombo, Sri Lanka Shelomentsev Andrey Gennadyevich, Viện Kinh tế. Szilagyi, CEU Business School, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga, CHLB Nga Dai hoc Central European, Hungary Nguyễn Trọng Hoài, Đại học Kinh tế TP. HCM Trương Bá Thanh, Đại học Đà Nẵng Đinh Phi Hổ, Đại học Kinh tế TP.HCM Sử Đình Thành, Đại học Kinh tế TP.HCM Hồ Đức Hùng, Đại học Kinh tế TP.HCM Eric Iksoon Im, Dai hoc Hawaii - Hilo, My Nguyễn Xuân Thắng, Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội VN Nguyễn Đình Thọ, Đại học Kính tế TP.HCM Pierre Lefebvre, Đại học Quebec- Montreal, Canada Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế TP. Malyadri, Government Degree College, Võ Thanh Thu, Đại học Kinh tế TP.HCM Osmania University, An D6 Dương Thị Bình Minh, Đại họ Kinh tế TP.HCM___ Đoàn Thị Hồng Vân, Đại học Kính tế TP.HCM Mazyrin Vladimir Moiseevich, Dai hoc Téng hop Tam Bang Vu, Đại học Hawaii - Hilo, My Lomonosov, CHLB Nga Thomas Wolke, Đại học Kinh tế - Luật Berlin, CHLB Đức Fariborz Moshirian, ínstifuie of Julian Ming - Sung Cheng, National Central University, Global Finance, Sydney, Uc Taiwan Phattrienkinhte ISSN 1859 - 1124 Năm xuât bản sô đâu tiên: 1990 Năm thứ hai mươi sáu, tháng 09/2015 Tap chi phát hành ngày | hang thang Năm thứ 26 - Số9 - Tháng 09/2015.
Bùi Thị Mai Hoài, Sử Đình Thành & Bùi Duy Tùng Cán đối ngân sách nhà nước, nợ công và các chuẩn mực quốc tế 26. Nguyễn Thị Thùy Linh. Trần Hoàng Ngân & Trương Thị Hồng Quyên lực thị tr tròng của ngán hàng và khả năng truyền dân chính sách tiễn lệ qua kênh tín dụng: Bằng chứng tại một số nước ASEAN 44. Nguyê ên Kim Đức & Tô Công Nguyên Bảo Hệ vô beta trong mô hình CAPM theo cách tiếp cận Bottom-up: Nghiên cứu thực nghiệm tại tiệt Nam 65.
Cao Quốc Việt Ban sac dan toc, chu nghĩa hướng ngoại, chu nghĩa vi chung và hành vì tiêu dùng hàng nội 86. Dặng Nguyên Duy & Lê Kim Long Nang suất các yếu tô tông hợp và tăng trương kinh tê: Nghiên cứu cho trường hợp tinh Khanh Hoa 101. Dang Thi Thanh Loan Cúc yếu tổ ảnh hướng đến sự hài lòng cua khách du lịch đối với diém dén Binh Dinh Thu và bài xin gởi vẻ tòa soạn: Gia: 50.000 đồng Đào Thị Minh Huyền Tòa soạn Tạp chí Phát triển Kinh tế SÓC Nguyên Dinh Chiều. 38229253 (tiếng Anh) Email: ptkt22uch.vn Giấy phép số 242/GP-BVITTT cấp ngày 08/05/2001.
In tại Công ty In Kinh tế - Trường Dại học Kinh tế TP.HCM 2 Bùi Thị Mai Hoài & cộng sự. Tạp chí Phát triển kinh tế. 26(9), 02-25 Cân đôi ngần sách nhà nước, nợ công và các chuân mực quôc tê BÙI THỊ MAI HOÀI Trường Đại học Kinh tế TP.HCM - maihoai@ueh.vn SỬ ĐÌNH THÀNH Trường Đại học Kinh tế TP.HCM - dinhthanh(9ueh.vn BÙI DUY TÙNG Trường Đại học Kinh tế TP.HCM - tungbd(@ueh.vn Ngày nhận: Tom tat ETORI2ONS Mô hình bền vững tài khoá yêu cầu thu, chỉ ngân sách phải ồn định Ngày nhận lại: và giới hạn ngân sách chính phủ cần được đảm bảo. Tuy nhiên, mô 30/01/2015 hình này bỏ qua thực tế răng giới hạn ngân sách chính phủ là một Ngày duyệt đăng: quá trình động găn với vai trò của chính phú.
Nghĩa là, sự mở rộng can thiệp của chính phú có ảnh hưởng đến tình hình ngân sách và nợ 15/09/2015 ˆ oa oh ee Sa, ¬ Ro , công. Mục tiêu của nghiên cứu này nhãm đánh giá tính bên vững tài Mã số: khoá và nợ công của VN. Tác giá tiếp cận mô hình nghiên cứu của 2014-H-S6 Trehan & Walsh (1991) va Hakkio & Rush (1991) dé kiêm định tính đông liên kêt giữa thu nhập và chỉ tiêu của chính phủ nhăm đánh giá tính bền vững nợ công và rúi ro tài khoá. Kết hợp với phân tích các khía cạnh thể chế, kết quả nghiên cứu phát hiện tài khoá và nợ công của VN là không bên vững; và chứa nhiều rủi ro tiềm an.
Abstract A fiscal sustainability model requires that budget revenue and expenditure be in balance while government budget constraints, Từ khóa: ensured. Yet, it becomes problematic as failing to address the ; dynamism of the budget constraints, associated with the Cân đôi ngân sách, tài government’s role (i. extending its intervention may affect public khoá va nợ công bền debt and finance). On adopting approaches by Trehan and Walsh vững.
đồng liên kết. (1991) and Hakkio and Rush (1991), which empirically tests Keywords cointegration between government revenue and its spending, this ‘ study’s aim is to assess the issue of public debt and fiscal Budget balance, fiscal sustainability in Vietnam. The findings, on the ground of analyzing sustainability, public institutional factors, demonstrate that no sustainability, as well as debt, cointegration. potential risk, is reflected by Vietnam’s public debt and fiscal policy.
Bùi Thị Mai Hoài & cộng sự Tạp chí Phái triên kinh tẻ, 26(9). Giới thiệu Chủ đề cân đối ngân sách, nợ công nhận được khá nhiều sự quan tâm của các nhà quản lí và nghiên cứu kinh tế. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 cùng với cuộc khủng hoảng nợ công xảy ra ở châu Âu đã đặt ra nhiều tranh luận về tính bền vững trong cân đối ngân sách, nợ công cũng như quản lí ngân sách theo các chuẩn mực quốc tế. Trong bối cảnh nợ công của các nước châu Âu, Catrina (2013) cho rằng thực hiện chính sách cân đối ngân sách thông qua biện pháp cắt giảm chỉ tiêu là không khả thi.
Sự bền vững tài chính công đòi hỏi một hỗn hợp chính sách vĩ mô hướng tới giới hạn sự can thiệp tùy tiện của các nhà chính trị trong cấu trúc chỉ tiêu ngân sách. Allen (2013) phân tích các vẫn đề chí tiêu chính phủ và nợ công của Mỹ trong mỗi quan hệ với vai trò của kế toán công. Kết quả cho thấy nợ công của Mỹ là không bền vững trong khi cần thiết phải thực hiện các hoạt động chỉ tiêu công một cách kịp thời dé giải quyết các vấn đẻ kinh tế. Allen (2013) cho rằng đề biết tường tận bức tranh nợ công và chỉ tiêu công cúa nước Mỹ cần phải hiểu rõ các nguyên tắc kế toán công và các nguyên tắc khác có liên quan.
Luật Ngân sách nhà nước năm 2002, và tiếp đến là Luật Quản lí nợ công 2009 đã thiết lập các nguyên tắc cân đối ngân sách và quản lí nợ công. Dựa trên các nguyên tắc này, các đánh giá chính thức của VN đều cho rằng nợ công VN là bền vững (Bộ Tài chính. IMEF (2010, 2014) đánh gia can đối ngân sách nhà nước ở VN còn nhiều khác biệt so với chuẩn mực quốc tế nên quản lí ngân sách nhà nước thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình. Nguyễn Quỳnh Thơ (2013) cho tăng để cải thiện tình trạng cân đối ngân sách VN cần đa dạng hoá nguồn thu, khai thác các nguồn thu trong nước.
giám nguồn thu phụ thuộc từ bên ngoài: đồng thời phân bồ chi tiêu ngân sách nên tập trung vào các lĩnh vực thiết yếu: Giáo dục. y tế, và cơ sở ha tang. Theo đánh giá của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và ƯNDP (2013), rủi ro nợ công của VN chủ yếu đến từ phần nợ trong nước. Nợ nước ngoài tuy quy mô khá lớn nhưng nhờ được hưởng lãi suất thấp và kì hạn dài nên gánh nặng trả nợ hàng năm là tương đối thấp trong những năm tới.
Tuy nhiên, trạng thái an toàn này chỉ được đảm bảo nếu như VN én định được tỉ giá hồi đoái. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá tính bền vững của tài khoá và nợ công của VN. Tác giả tiếp cận mô hình của Trehan & Walsh (1991) và Hakkio & Rush (1991) kiểm định đồng liên kết giữa thu nhập và chỉ tiêu của chính phủ. Đồng thời, kết hợp với phân tích các khía cạnh thuộc về thể chế, những khác biệt về chuân mực trong 4 Bùi Thị Mai Hoài & cộng sự.
Tạp chí Phát triển kinh tế, 26(9), 02-25 nước và quốc tế về đo lường các chỉ tiêu thông kê tài chính đê đánh giá tính bên vững nợ công và rủi ro tài khoá. Tông quan về cân đôi ngần sách và bên vững nợ công A À _A Ae A z ` À ~ A 2. Lí thuyết cân đối ngân sách và bên vững nợ công Cân đối ngân sách nhà nước là hành động xác định nhu cầu cần được tài trợ của chính phủ trong năm tài khoá sau khi đã cân đối các khoản chỉ với các khoản thu ngân sách. Về thực chất, cân đối ngân sách là việc xác định thâm hụt ngân sách cần được tài trợ thông qua vay nợ nhằm đạt được mục tiêu của chính sách tài khoá (Blejer & Cheasty, 1991).