CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - NHỮNG VẤN ĐẺ MANG TÍNH LÝ LUẬN 1. TỎNG QUAN VỀ THẺ NGÂN HÀNG 1. Quá trình hình thành và phát triển của thẻ ngân hàng Thẻ thanh toán ngân hàng thương mại là hình thức thanh toán có nguồn gốc từ việc mua bán chịu do ohn Biggins phát minh từ những năm 40 của thế kỷ 20. Hình thức này ban đầu được sử dụng để khách hàng thanh toán ở chuỗi cửa hàng bán lẻ tại Mỹ Bằng tính tiện ích và khả năng hỗ trợ linh hoạt cho khách hàng và người bán hàng nên hình thức này trở nên phát triển hon.
Thẻ thanh toán do ngân hàng Franklin National Bank ở Long Island-New York phát hành lân đâu tiên năm 1951. Đã tiếp thu và ứng dụng thành tựu của thế giới về KH-KT, nhất là lĩnh vực CN-TT, hệ thống thẻ đã và đang ngày càng hoàn thiện hơn. Thẻ tín dụng ngày nay có sự tham gia của các tổ chức thẻ quốc tể, các tổ chức tài chính ngân hàng, các công ty cung cấp thiết bị giải pháp kỹ thuật, các công ty viên thông quốc tế. Hiện nay, mạng lưới thành viên và khách hàng phát triển, các tổ chức thẻ quốc tế xây dựng thêm hệ thống xử lý giao dịch và trao đôi thông tin toàn cầu về phát hành, cấp phép, hoàn trả, thanh toán, khiếu nại, tra soát và quản lý rủi ro.
Ngày nay, thẻ ngân hàng đang dần thay thế những tờ séc khi thanh toán qua ngân hàng. Dịch vụ thẻ được mở rộng tại nhiều quốc gia và Thẻ đã phát hành và sử dụng tăng, trong đó thẻ phát hành và được sử dụng nhiều là Visa card và Master Card về khái niệm thẻ ngân hàng là công cụ thanh toán do NHPH cấp cho khách hàng để thanh toán hàng hoá, sử dụng những dịch vụ và rút tiền mặt trong phạm vi số dư của mình ở tài khoản tiên gửi hoặc hạn mức tín dụng được cấp theo hợp đồng ký kết giữa NHPH và chủ thẻ. Cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ và cung ứng dịch 8 vụ rút tiền mặt thông qua NHTT và NHPH Thẻ ngân hàng. Được làm bằng chất liệu plastic theo kích thước đạt tiêu chuẩn quốc tế và có các yếu tổ sau: + Thương hiệu, nhãn hiệu của thẻ, logo, tên của ngân hàng và/hoặc tô chức PH thẻ.
+ Thời gian/Thời hạn hiệu lực khi khách hàng sử dụng thẻ. + Hạng của thẻ (đặc biệt/vàng/chuẩn). + Tên của chủ thẻ, số thẻ và những bảo mật của thẻ. Một trong những dịch vụ của bán lẻ, dịch vụ thẻ đã có những diêm riêng biệt: + Hoạt động thẻ ngân hàng là kết quả của sự phát triển KH-CN, là sự phát triển của hoạt động ngân hàng, đặc biệt là phát triển mạng lưới toàn cầu của ngân hàng và liên kết các ngân hàng thành một khối thống nhất trên cơ sở một trung tâm thanh toán bù trừ.
+ Hoạt động thẻ đã mang lại nhiều tiện ích với nền kinh tế và hệ thống của ngân hàng, bên cạnh đó còn hữu dụng với chủ sử dụng thẻ. Tuy vậy, vẫn còn nhiều tiềm ẩn rủi ro, tổn thất. + Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt như uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc, Phone banking, E-banking, Home banking, Internet banking, thẻ ngân hàng đã góp phần giảm tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt trong các giao dịch kinh tế. + Dịch vụ thẻ ngân hàng cần có đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, giỏi chuyên môn nghiệp vụ để xử lý đảm bảo thông suốt và an toàn trong hoạt động thẻ.
+ So với các công cụ thanh toán khác, chi phí đầu tư xây dựng hệ thống phát hành và thanh toán thẻ rất lớn, thời gian hoàn vốn dài. + Dịch vụ thẻ ngân hàng có tính đồng nhất cao, không có sự khác biệt hoá sản phẩm. Để cạnh tranh, các ngân hàng thường tập trung vào các hoạt 9 động liên quan đến marketing sản phẩm, dịch vụ chăm sóc khách hàng. Nhờ có ứng dụng của CN-TT vào trong lĩnh vực TC-NH đã tạo nền tảng cho sự phát triển của phương thức thanh toán thông qua thẻ ngân hàng.
Thẻ ngân hàng được sử dụng qua các hệ thống giao dịch tự động như máy ATM hoặc máy POS. Nội dung cơ bản về thẻ ngân hàng Tùy theo công nghệ sản xuất, tính chất thanh toán của thẻ, phạm vi lãnh thô hoặc chủ thê phát hành thẻ mà thẻ ngân hàng có những nội dung và đặc điểm sau đây: 1. P h â n lo ạ i th e o c ô n g n g h ệ sả n x u ấ t - Thẻ bằng từ (Magnetic stripe): dựa trên kỹ thuật với hai băng từ chứa các thông tin phía sau mặt thẻ. Thẻ này được sử dụng phổ biến II thập kỷ qua, nhưng đã bộc lộ một số khuyết điểm thông tin ghi trên thẻ không tự mã hoá được, bộ nhớ dữ liệu ít, chỉ mang thông tin cố định, không được bảo mật thông tin.
- Thẻ khắc chữ nổi (EmbossingCard): dựa trên kỹ thuật khắc chữ nổi. Hiện nay khách hàng không sử dụng loại thẻ này nữa vì quá thô sơ dễ bị giả mạo. - Thẻ thông minh (Smart Card): hay còn gọi là thẻ chip. Là loại thẻ mới nhất của ngân hàng, có cấu tạo nhưmột máy vi - tính.
Ưu điểm của thẻ chip là thông tin nằm trong chip được mã hóa và chỉ có NH phát hành mới đọc được dữ liệu trong thẻ và thẻ chip không thể làm thẻ giả được. Việc chuyển sang sử dụng thẻ chip sẽ khắc phục được tình trạng tội phạm đánh cắp dữ liệu thẻ để chế tạo thẻ giả nhằm rút trộm tiền. P h ă n lo ạ i d ự a th e o tín h c h ấ t th a n h to á n - Thẻ tín dụng (Credit Card): được sử dụng phổ biến hiện nay, chủ thẻ được phép thanh toán dịch vụ trong một hạn mức tín dụng không phải trả lãi tại những cơ sở kinh doanh, siêu thị, sân bay khách sạn, chấp nhận loại thẻ 10 này. Chủ thẻ được ứng trước một hạn mức tiêu dùng mà không phải trả tiền ngay, chỉ thanh toán sau một kỳ hạn nhất định.
Nguời ta còn gọi thẻ tín dụng là thẻ ghi nợ hoãn (delayedodebit card) hoặc chậm trả. - Thẻ ghi nợ (Debit card): có quan hệ trực tiếp và được liên kết với tài khoản tiền gửi. Được sử dụng thanh toán hàng hoá, dịch vụ, tài khoản sẽ được khâu trừ ngay lập tức qua những thiết bị điện tử đặt tại cửa hàng, sân bay, siêu thị đồng thời chuyển ngân ngay lập tức vào tài khoản của cửa hàng, sân bay, siêu thị. Thẻ ghi nợ còn dùng để rút tiền mặt tại máy ATM.
Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì phụ thuộc vào số dư hiện tại trên tài khoản. Có hai loại thẻ ghi nợ cơ bản: + Thẻ online: giá trị các giao dịch được trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ. + Thẻ offline: giá trị các giao dịch được trừ vào tài khoản của chủ thẻ sau đó vài ngày. - Thẻ rút tiền mặt (Cash-card): loại thẻ rút tiền mặt tại các máy ATM.
Có những chức năng chỉ dùng để rút tiền, đối với loại thẻ này chủ thẻ phải ký quỹ tiền gửi vào tài khoản của ngân hàng, chủ thẻ được cấp tín dụng thấu chi mới có thể sử dụng được. Thẻ rút tiền mặt có hai loại: + Loại 1: chi rút tiền tại ATM của NHPH. + Loại 2: sử dụng để rút tiền không chi ở NHPH và rút tiền ở các Ngân hàng cùng tham gia tổ chức thanh toán với NHPH thẻ. P h â n lo ạ i d ự a th e o p h ạ m v ì lã n h th ố - Thẻ trong nước được giới hạn trong một quốc gia, đồng tiền giao dịch phải là đồng bản địa của nước đó.
- Thẻ quốc tế được chấp nhận trên toàn thế giới, có thể sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán. P h â n lo ạ i d ự a th e o c h ủ th ể p h á t h à n h 11 - Thẻ do Ngân hàng phát hành (BanktCard): do NHPH giúp cho khách hàng sử dụng một hạn mức do Ngân hàng cấp tín dụng. - Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành là thẻ giải trí, du lịch của các đơn vị kinh doanh lớn,công ty xăng dầu lớn, các chuỗi siêu thị lớn như Vinmart, BigC. Vai trò, lợi ích thẻ ngân hàng 1.
V ai trò Đ ối với ngăn hàng Thẻ thanh toán đem lại hiệu quả và lợi nhuận cao trong thanh toán, các ngân hàng sẽ thu được một phần lợi nhuận từ các loại phí phí thường niên phí sử dụng thẻ, hay phí từ dịch vụ Ngân hàng. Mỗi khách hàng muốn sử dụng dịch vụ thẻ đều phải kí quỹ/ nộp tiền vào tài khoản thẻ một số tiền mà chủ thẻ không được sử dụng vượt quá, vì vậy khoản lợi nhuận này hầu như chắc chắn. Sô giao dịch băng thẻ hàng ngày có thể lên tới hơn trăm nghìn thẻ nên khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh thẻ không hề nhỏ. Bên cạnh đó ngân hàng có thể sử dụng số tiền nhàn rỗi trong tài khoản thẻ của khách hàng đê cho vay, đâu tư nhăm mục đích sinh lời nhưng phải đảm bảo tính thanh khoản cho khách hàng.
Thẻ thanh toán ra đời nhằm góp phần làm đa dạng dịch vụ của Ngân hàng, mang đến một phương tiện thanh toán tiện lợi và tạo điều kiện cho Ngân hàng phát triển dịch vụ như đầu tư, bảo hiểm,. nhằm thỏa mãn thị hiếu của khách hàng. Điều này giúp cho Ngân hàng thu hút được những khách hàng tiềm năng và giữ được những khách hàng đang sử dụng dịch vụ. Thẻ thanh toán đóng vai trò thúc đẩy công nghệ Ngân hàng, Để áp dụng nghiệp vụ thanh toán thẻ, mỗi Ngân hàng cần nâng cao chuyên môn, trang bị thêm thiết bị - kỹ thuật có tính công nghệ cao, để cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất trong thanh toán, đảm bảo uy tín, an toàn, uy tín 12 tăng khả năng cạnh tranh.
Với việc tham gia vào các tổ chức thẻ quốc tế như Visa/Master Card hay trở thành thành viên của các tổ chức thẻ quốc tế, Ngân hàng có môi quan hệ hợp tác với nhiều Ngân hàng, nhiều tổ chức tài chính trong và ngoài nước. Nhờ đó, Ngân hàng có thể đáp ứng cho khách hàng phương tiện thanh toán quốc tế có chất lượng, tạo điều kiện cho Ngân hàng nâng cao chất lượng kinh doanh, hội nhập với quốc tế. Ngoài ra, nhờ có thẻ ngân hàng mà lượng tiền gửi của khách hàng tại Ngân hàng và lượng tài khoản của các ĐVCNT tăng lên.