Chương 1 (33 trang) rà soát, phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước về phát triển các KĐTM theo hướng bền vững, xác định khoảng trống trong các nghiên cứu này và đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu của luận án; Chương 2 (42 trang) tập trung luận giải và làm rõ nội hàm, chỉ ra các đặc điểm và yếu tố tác động, đề xuất hệ thống gồm 4 nhóm với 20 tiêu chí đánh giá phát triển KĐTM theo hướng bền vững; Chương 3 (51 trang) tập trung phân tích thực trạng phát triển các KĐTM trên địa bàn Hà Nội, chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế làm ảnh hưởng đến xu hướng phát triển bền vững các KĐTM Hà Nội và nguyên nhân của thực trạng này; Chương 4 (37 trang) đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm phát triển các KĐTM trên địa bàn Hà Nội theo hướng bền vững đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Luận án đã phân tích và đánh giá được xu hướng chưa bền vững trong phát triển các KĐTM trên địa bàn Hà Nội thời gian qua với minh chứng bằng các số liệu thống kê, khảo sát và điều tra thực địa tại các KĐTM điển hình, đề xuất định hướng và một số giải pháp cụ thể, trong đó đặc biệt chú trọng nhóm giải pháp nhằm thay đổi hướng tiếp cận và quan điểm, đưa các tiêu chí PTBV vào quy trình quy hoạch, đầu tư, xây dựng và quản lý KĐTM 2 2. Lý do thực hiện đề tài Đô thị hóa (ĐTH) là xu hướng tất yếu tại tất cả các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quá trình ĐTH tại Việt Nam cũng đang diễn ra mạnh mẽ với tốc độ rất cao.
Năm 1990, tỷ lệ ĐTH mới đạt khoảng 17-18%, đến năm 2000, con số này đã là 23,6% và hiện nay đạt 28%. Dự báo, năm 2020 tỷ lệ ĐTH của Việt Nam sẽ đạt khoảng 45%, tức là gần một nửa dân số Việt Nam sẽ sống trong khu vực đô thị [36]. Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai thành phố có tốc độ ĐTH cao nhất. Năm 2011, tỷ lệ ĐTH ở Hà Nội là 35 - 40% và sẽ nhảy vọt ở mức 55 - 65% vào năm 2020 [36].
Song song với quá trình này là sự gia tăng dân số tại Thủ đô. Năm 1990, Hà Nội mới chỉ có 2 triệu người, đến năm 2000 là 2,67 triệu thì đến năm 2013, 5 năm sau khi mở rộng đã đạt tới con số hơn 7,1 triệu dân [13], tạo sức ép rất lớn cho Thành phố về vấn đề nhà ở cũng như các tiện ích xã hội phục vụ dân cư. Để đáp ứng tốc độ ĐTH, mở rộng đô thị, đồng thời giải quyết bài toán nơi cư trú cho dân cư, một trong các giải pháp mà nhiều đô thị trên thế giới trong quá trình phát triển đã sử dụng và cũng được Thành phố Hà Nội thực hiện từ đầu những năm 1990 là xây dựng các khu đô thị mới (KĐTM). Tính đến giữa năm 2013, trên địa bàn Thành phố đã có hơn 200 dự án KĐTM, với tổng diện tích khoảng 30.000 ha [4], và đang có xu hướng tăng mạnh trong tương lai.
Là một bộ phận cấu thành quan trọng trong cấu trúc không gian đô thị, được hiểu như một khu dân cư có các chức năng hoàn chỉnh, có quy hoạch ngay từ đầu, trong một thời gian dài, các KĐTM là tiêu biểu cho một hình ảnh Hà Nội đổi mới, hiện đại và năng động. Tuy nhiên, qua gần 20 năm phát triển, thực tế đã nảy sinh rất nhiều vấn đề cần giải quyết trong các KĐTM này: hệ thống hạ tầng thiếu đồng bộ, mật độ xây dựng quá dày, thiếu các tiện ích xã hội, thiếu tính kết nối; ô nhiễm môi trường. và nhiều vấn đề khác, ảnh hưởng tới không gian đô thị, tới môi trường xã hội và tự nhiên, tới chất lượng sống không chỉ của những cư dân đô thị hiện nay, mà cả những thế hệ tiếp nối. Con đường duy nhất và tất yếu để cải thiện tình trạng trên là các KĐTM phải theo hướng phát triển bền vững (PTBV).
3 Với mục tiêu nổi tiếng đã trở thành phổ biến trên toàn cầu “Phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai” [80], PTBV nhằm mục đích nâng cao tối đa chất lượng cuộc sống của nhiều thế hệ con người trong giới hạn cho phép của hệ sinh thái. Tại Việt Nam, gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 432/QĐ- TTg ngày 12/4/2012 phê duyệt “Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020”, trong đó nêu rõ: “PTBV là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội” [37]. Yêu cầu PTBV này cần được cụ thể hóa tới các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên các địa bàn/ không gian cụ thể. Trong dòng chảy PTBV, trong bối cảnh quá trình ĐTH được coi là không thể đảo ngược, PTĐTBV là sự phát triển hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, môi trường và xã hội trong đô thị với mục tiêu cuối cùng là đời sống của dân cư đô thị phải được nâng cao hơn, tiện nghi và hạnh phúc hơn ở thế hệ hiện tại mà không gây ra gánh nặng cho thế hệ tương lai.
Trong lĩnh vực mở rộng và PTĐT, các KĐTM cũng phải theo hướng PTBV để làm thành một cơ thể đô thị mạnh khỏe, hài hòa với môi trường và thiên nhiên, cân bằng và ổn định. Để đạt được mục tiêu PTBV tại các đô thị nói chung và các KĐTM nói riêng, việc rà soát, đánh giá hiện trạng bền vững trong các KĐTM, làm rõ những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện quá trình phát triển là việc làm cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong tình hình hiện nay ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Hiện tại, ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu công bố về PTBV cho riêng cho KĐTM. Đặc biệt, việc nghiên cứu và đề xuất các bộ tiêu chí để đánh giá tính bền vững trong phát triển các KĐTM còn thiếu và khả năng áp dụng vào thực tiễn chưa cao.
Với mong muốn đóng góp vào việc giải quyết một vấn đề cấp bách của thực tiễn hiện nay, tác giả đã chọn thực hiện đề tài: “Phát triển các khu đô thị mới theo hướng bền vững: nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội”. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự phát triển các KĐTM có chức năng chủ yếu là khu ở trên địa bàn Thành phố Hà Nội theo quan điểm bền vững (không xem xét các loại KĐT khác, như đô thị khoa học công nghệ…). Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển các KĐTM có chức năng là khu ở theo hướng bền vững; - Về không gian: luận án nghiên cứu các KĐTM có chức năng là khu ở trên địa bàn Hà Nội, bao gồm các phần lãnh thổ của thành phố trước và sau khi mở rộng theo Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội.
- Về thời gian: luận án phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các KĐTM điển hình của Hà Nội trong thời kỳ từ năm 1997 đến 2013. Phần đề xuất định hướng và giải pháp lấy mốc thời gian cho giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Những đóng góp mới của luận án Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận - Khác với các nghiên cứu đã có chọn phạm vi là toàn thành phố hoặc các công trình xây dựng cụ thể, luận án chọn và hệ thống hóa, luận giải, làm rõ quan niệm khu đô thị mới (KĐTM) với tư cách là một không gian địa lý - kinh tế trong cấu trúc đô thị, được hình thành từ việc đầu tư xây dựng mới đồng bộ theo quy hoạch và phát triển tuân thủ theo quy hoạch, với chức năng chính là cung cấp một môi trường sống hài hòa, văn minh, hiện đại và bền vững cho cư dân đô thị; - Luận án xác định quan điểm phát triển KĐTM theo hướng bền vững là sự hài hòa trong nội bộ khu, đáp ứng yêu cầu khu ở chất lượng cao, văn minh, hiện đại, vì con người hiện tại nhưng không để lại gánh nặng cho các thế hệ tương lai, đồng thời liên kết chặt chẽ với khu vực xung quanh và đô thị hiện hữu; - Luận án rà soát và đề xuất bổ sung nhóm tiêu chí thể chế vào hệ thống các tiêu chí đánh giá phát triển KĐTM theo hướng bền vững, lấy con người làm trung tâm, trong đó đặc biệt coi trọng các tiêu chí về sự hài lòng của người dân sinh sống 5 trong KĐTM, đáp ứng đầy đủ về tiếp cận dịch vụ, cân bằng giữa cung và cầu, giảm hoặc loại bỏ tác động xấu lên môi trường và người dân trong KĐTM.