phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu; cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển các khu công nghiệp theo hƣớng bền vững trên địa bàn tỉnh. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 3: Thực trạng phát triển các khu công nghiệp theo hƣớng bền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011 - 2015. Chƣơng 4: Phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển các khu công nghiệp theo hƣớng bền vững trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2016 - 2020 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU; CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP THEO HƢỚNG BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tổng quan tài liệu nước ngoài KCN là một trong những mô hình cụ thể của loại hình đặc khu kinh tế trên thế giới. Từ năm 1574, Italia đã nghiên cứu và thực hiện việc xây dựng một đặc khu kinh tế vào loại sớm nhất trên toàn cầu dƣới dạng một Thƣơng cảng tự do. Mô hình về KCN xuất hiện chậm hơn mô hình Thƣơng cảng tự do.
Ở Anh có KCN đầu tiên vào năm 1896. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, nhu cầu đầu tƣ vào công nghiệp từ quốc gia này tới quốc gia khác ngày càng lớn đã thổi một làn gió mới vào mô hình KCN truyền thống, trong đó xuất hiện những mục tiêu mới của KCN, đặc biệt là thu hút đầu tƣ của nƣớc ngoài. Trong thập kỷ 70, 80 của thế kỷ 20, hàng loạt quốc gia khác đã rầm rộ xây dựng KCN để đón nhận làn sóng đầu tƣ ào ạt từ các quốc gia có lợi thế về vốn, công nghệ, thị trƣờng… vào công nghiệp. Trong khi nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ gặt hái đƣợc những kết quả rất đáng khích lệ từ phát triển KCN (nhƣ Thụy Điển, Ấn Độ, Ai Cập, Đài Loan…) thì không ít quốc gia khác lại không đạt đƣợc nhƣ vậy, thậm chí thất bại.
Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều quốc gia đã không mặn mà với mô hình KCN, tìm kiếm mô hình khác thích hợp và hiệu quả hơn, trong đó: Hàn Quốc nghiên cứu và thực hiện phát triển theo mô hình KCN tập trung; Trung Quốc nghiên cứu và thực hiện phát triển theo mô hình KCN Hƣơng Trấn (thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nƣớc đầu tƣ vào các ngành công nghiệp, dịch vụ), mô hình KKT mở (qui mô rất lớn về không gian và địa bàn, đa dạng về ngành nghề, trong đó công nghiệp đƣợc chú trọng để khuyến khích các doanh nghiệp trong nƣớc và nƣớc ngoài đầu tƣ). Phát triển các KCN tập trung để thu hút và quản lý hoạt động của các nhà đầu tƣ chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp đƣợc xem là một xu thế vận 5 động mang tính qui luật và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế nhanh đi đôi với công tác BVMT của nhiều nƣớc trên thế giới. Tác phẩm: “The application of industrial ecology principles and planning guidelines for the development of ecoindustrial parks: an Australian case study”. Tạp chí sản xuất sạch của B.
Roberts Elsevier, 2004 đƣa ra quan niệm mới trong PTBV KCN theo hƣớng phát triển KCN sinh thái (EIPs) với các tiêu chí cụ thể và minh chứng trong điều kiện của Australia. Mặc dù KCN sinh thái vẫn còn đƣợc xem là khái niệm khá mới mẻ đối với rất nhiều doanh nghiệp, chính quyền địa phƣơng và cả các cộng đồng nƣớc này. Thậm chí khái niệm về KCN sinh thái vẫn còn bị hiểu sai và áp dụng một cách thăm dò. Tƣơng tự nhƣ một số đặc trƣng của KCN truyền thống, các KCN sinh thái đƣợc thiết kế để cho phép các doanh nghiệp chia sẻ chung cơ sở hạ tầng để thúc đẩy sản xuất và giảm thiểu chi phí.
Công trình nghiên cứu “Implementing industrial ecology?Planning for ecoindustrial parks in the USA” của D. NXB Elsevier, 2011 cho rằng mặc dù nhận đƣợc sự đồng thuận rộng rãi của vấn đề PTBV trong các diễn đàn quốc tế nhƣng trên thực tế, việc đạt mục tiêu về kịch bản “win – win – win” (cùng thắng) về các mặt phát triển kinh tế, môi trƣờng và xã hội vẫn là một vấn đề nan giải. Những ngƣời ủng hộ phát triển về công nghiệp sinh thái cho rằng việc dịch chuyển trong chuỗi sản xuất công nghiệp từ một đƣờng thẳng đến hệ thống khép kín sẽ giúp đạt đƣợc mục tiêu trên. Những năm gần đây, các khái niệm vạch ra từ công nghiệp sinh thái đã đƣợc sử dụng để xây dựng các KCN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, giảm rác thải và ô nhiễm, tạo việc làm và cải thiện điều kiện làm việc.
Tác giả nhấn mạnh vào các vấn đề nan giải nảy sinh trong giai đoạn phát triển các KCN ở Mỹ. Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu PTBV các KCN dƣới góc độ kinh tế và môi trƣờng mà chƣa xem xét đến các vấn đề xã hội một cách thỏa đáng. Việc qui hoạch các KCN tập trung qua đó thu hút các nhà đầu tƣ xây dựng hạ tầng KCN và áp dụng các cơ chế ƣu đãi cho các doanh nghiệp đầu tƣ hoạt động trong KCN sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất công nghiệp địa phƣơng và tăng khả 6 năng quản lý nhà nƣớc đối với các hoạt động sản xuất trong KCN. Bên cạnh đó, phát triển KCN sẽ giúp thúc đẩy hoạt động chuyển giao, đổi mới công nghệ sản xuất.
Nghiên cứu “Chinese Science and Technology Industrial Parks” của Susan M. Walcott, 2003 đã xem xét vai trò các KCN Trung Quốc trong việc thu hút các công nghệ hiện đại để sản xuất các hàng hóa có chất lƣợng đƣa ra thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế. Tác phẩm này đƣa ra các lập luận dựa trên các lý thuyết về liên kết KCN trong bối cảnh của nƣớc này với các khác biệt ở các địa phƣơng khác nhau, từ Tây An ở phía Tây tới Bắc Kinh ở phía Bắc, Tô Châu – Thƣợng Hải ở duyên hải và shenzhen – Dongguan ở Đông Nam. Bên cạnh đó, việc phát triển sản xuất trong các KCN sẽ có tác động lan toả thúc đẩy sự phát triển của các vùng lân cận và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Thực tế đã chứng minh sự thành công trong việc phát triển các KCN của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới nhƣ: Trung Quốc, Malaixia, Philippine, Thái Lan, Đài Loan… Thái Lan đã đƣa ra các phƣơng án quy hoạch KCN theo mô hình PTBV bằng chính sách ƣu đãi khác nhau theo từng vùng. Các KCN của Thái Lan đƣợc chia thành 3 vùng: vùng 1 bao gồm Băng Cốc và 5 tỉnh lân cận; vùng II bao gồm 12 tỉnh tiếp theo và vùng III bao gồm 58 tỉnh còn lại. Các ƣu đãi tài chính đƣợc tập trung nhiều nhất cho vùng III. Nhiều ngành công nghiệp không đƣợc phép đầu tƣ vào vùng I mà chỉ đƣợc phép đầu tƣ vào vùng II và III.
Ví dụ nhƣ ngành sản xuất các sản phẩm từ cao su, sản xuất ceramic, sứ, kính và sản phẩm từ kính, chế tạo dụng cụ. Ngành sản xuất thức ăn gia súc, dầu thực vật, nƣớc uống, đƣờng ăn, sản phẩm may mặc thông thƣờng. tức là các ngành sản xuất sản phẩm sử dụng nhiều lao động giản đơn, dễ gây ô nhiễm, cần sử dụng nhiều nguyên liệu ngành nông nghiệp phải đặt ở vùng III, tức là xa Băng Cốc và 5 tỉnh lân cận. Mặc dù có nhiều điểm khác biệt, nhƣng về mặt chính sách, các mô hình trên đây đều có một điểm chung, đó là chính sách "thu hút đầu tƣ".
Dù là KCX, KCN, KCN Hƣơng Trấn, hay KKT mở, nếu đƣợc xây dựng nhƣng không thu hút hoặc thu hút đƣợc rất ít doanh nghiệp đến đầu tƣ thì Khu đó coi nhƣ thất bại. Tổng quan tài liệu trong nước Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong nƣớc đi vào nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển các KCN. Nhiều nghiên cứu đã có những đánh giá khá sâu sắc và nêu bật các đặc trƣng, tồn tại cơ bản của các KCN, các doanh nghiệp trong KCN hiện nay cũng nhƣ các chính sách và thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc đối với các KCN, cụ thể là: - Nhiều công trình nghiên cứu thông qua việc đánh giá thực trạng phát triển các KCN cả nƣớc đã có các đánh giá về mặt đƣợc và chƣa đƣợc của quá trình phát triển KCN sau hơn 15 năm, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục phát triển các loại hình KCN. Các công trình cụ thể là: VS.
Nguyễn Chơn Trung, PGS. Trƣơng Giang Long: Phát triển các KCN, KCX trong quá trình CNH, HĐH, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2004; Võ Thanh Thu: "Phát triển KCN, KCX đến năm 2020, triển vọng và thách thức" - Tạp chí Cộng sản, số tháng 5/2013. - Một số nghiên cứu khác đi vào phân tích tác động của các cơ chế, chính sách phát triển các KCN trong cả nƣớc đến sự PTBV của các KCN.
Thông qua các nghiên cứu về những tồn tại trong thực tiễn áp dụng ở các địa phƣơng nhƣ: tình trạng mở ồ ạt quá nhiều KCN tại những địa bàn chƣa đƣợc chuẩn bị kỹ, vấn đề cạnh tranh không lành mạnh về thu hút đầu tƣ giữa các địa phƣơng; vấn đề ô nhiễm môi trƣờng không đƣợc quản lý tại các KCN… các tác giả đề xuất các khuyến nghị về thay đổi chính sách nhằm đảm bảo cho sự phát triển các KCN bền vững. Các nghiên cứu này bao gồm: Ngô Thắng Lợi, Bùi Đức Tuân, Vũ Thành Hƣởng, Vũ Cƣơng, (2006): “Ảnh hưởng của chính sách phát triển các KCN tới PTBV ở Việt Nam”, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội; Đinh Hữu Quí (2005): “Mô hình KKT đặc biệt trong quá trình phát triển kinh tế của các nước với việc hình thành và phát triển các KKT đặc biệt ở nước ta”, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2005. - Nghiên cứu đi vào phân tích hiệu quả của việc phát triển các KCN dƣới góc độ sử dụng nguồn tài nguyên đất đai. Sau khi đƣa ra nhận xét về tình trạng còn quá nhiều KCN mới cho thuê đƣợc 10% đến 50% tổng diện tích có thể cho thuê, tác giả Đặng Hùng: "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong KCN", Tạp chí Bất 8 động sản nhà đất Việt Nam, số 64, tháng 5/2014 đã khuyến nghị giải pháp 5 điểm để nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại các KCN Việt Nam trong những năm tới.