CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG VẬN TẢI HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẬN TẢI 1. Khái niệm vận tải Theo trang Wikipedia, vận tải được định nghĩa là “sự dịch chuyển con người, động vật và hàng hóa từ nơi này đến nơi khác. Vận tải có nhiều hình thức như đường hàng không, đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường dây cáp, đường ống và bao gồm các lĩnh vực như cơ sở hạ tầng, phương tiện, tổ chức hoạt động”.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 42/2020/NĐ-CP, vận tải là quá trình tác động lực vào các vật thể để dịch chuyển vật thể nào đó từ vị trí này đến vị trí khác. Vận tải gắn liền với nhu cầu sinh hoạt, sản xuất hàng ngày của con người. Người vận tải 7 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 là tổ chức, cá nhân sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ hoặc phương tiện thủy nội địa để thực hiện vận chuyển hàng hóa nguy hiểm Như vậy, vận tải là hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí hàng hóa và con người từ nơi này đến nơi khác bằng các phương tiện vận tải. vận tải hàng hóa được coi là sự di chuyển hàng hóa trong không gian bằng sức người hay phương tiện vận tải nhằm thực hiện các yêu cầu mua bán, dự trữ trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Vận tải để cung ứng hàng hóa tới khách hàng đúng thời gian và địa điểm yêu cầu, đảm bảo an toàn hàng hóa với mức chi phí hợp lý. Đặc điểm của vận tải Sản phẩm vận tải cũng là hàng hóa và cũng có giá trị sử dụng, giá trị của hàng hóa là lực lượng lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hóa đó. Giá trị sử dụng của sản phẩm vận tải là khả năng đáp ứng nhu cầu di chuyển. Ngành vận tải có những đặc điểm khác biệt về quá trình sản xuất, sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm, thể hiện ở các điểm sau đây: Môi trường sản xuất của vận tải là không gian và luôn di động.
Sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tượng lao động chứ không phải tác động về mặt kỹ thuật. Sản phẩm vận tải mang tính vô hình. Trong ngành vận tải, sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, do đó không có khả năng dự trữ sản phẩm vận tải để tiêu dùng về sau mà chỉ có khả năng dự trữ năng lực vận tải. Quá trình sản xuất của ngành vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ làm thay đổi vị trí của hàng hóa và cũng qua đó làm tăng giá trị của hàng hóa.
8 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail. Chức năng của vận tải Ngành vận tải cung cấp hai dịch vụ chính: vận chuyển và lưu trữ hàng hóa.1 Vận chuyển hàng hóa Giá trị cơ bản mà vận tải tạo ra là vận chuyển hàng hóa tới địa điểm cụ thể nào đó, đây cũng là giá trị đóng góp chủ yếu của ngành vận tải đối với hoạt động Logistics. Hiệu quả hoạt động của ngành vận tải có vai trò quyết định đối với các hoạt động thu mua nguyên vật liệu, sản xuất và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Nếu không có dịch vụ vận tải đáng tin cậy, các hoạt động thương mại không thể vận hành đúng chức năng.
Vận tải phải sử dụng đến các nguồn lực tài chính. Theo thống kê, vận tải chiếm tỷ lệ chi phí cao, khoảng từ 30-60% tổng chi phí Logistics của doanh nghiệp. Thêm vào đó, thất thoát và hư hỏng hàng hóa trong quá trình vận chuyển cũng chiếm tỷ trọng đáng kể. Vận tải tác động trực tiếp và gián tiếp lên các nguồn tài nguyên môi trường.
Theo cách trực tiếp, vận tải cho thấy là một trong những ngành tiêu biểu tiêu thụ dầu và xăng lớn nhất nền kinh tế. Theo cách gián tiếp, vận tải tác động lên môi trường do việc tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm không khí và ô nhiễm tiếng ồn.2 Dự trữ hàng hóa Khía cạnh ít được nhận biết hơn của hoạt động vận tải là dự trữ hàng hóa. Khi một hàng hóa trên phương tiện vận tải đồng nghĩa với việc nào đang được dự trữ. Vì mục tiêu chủ yếu của vận tải là vận chuyển hàng hóa nên việc sử dụng phương tiện vận tải để dự trữ hàng hóa không phải là ưu tiên trong hoạt động vận tải.
9 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 Vì vậy, mặc dù tốn chi phí nhưng cách thức lưu trữ hàng hóa trên phương tiện vận tải có thể được quyết định căn cứ vào tổng chi phí hoặc hiệu quả hoạt động khi cân nhắc hoặc xem xét đầy đủ đến các chi phí liên quan như tháo dỡ hoặc bốc hàng, sự hạn chế về vận tải và khả năng thời gian kéo dài. Nguyên tắc vận tải Có hai nguyên tắc kinh tế cơ bản ảnh hưởng tới hiệu quả vận tải: tính kinh tế nhờ quy mô và tính kinh tế nhờ cự ly. Tính kinh tế nhờ quy mô trong vận tải là chi phí cho mỗi đơn vị khối lượng giảm đi khi quy mô vận tải hàng hóa tăng lên. Nhìn chung có thể khẳng định rằng các phương tiện vận tải có khả năng tải lớn như tàu hỏa hoặc đường thủy, tốn ít chi phí trên mỗi đơn vị khối lượng vận tải hơn là các phương tiện vận tải có tải trọng nhỏ như xe tải hay máy bay.
Tính kinh tế nhờ quy mô trong vận tải tồn tại bởi vì chi phí cố định cho vận chuyển một khối hàng tỷ lệ nghịch với khối lượng hàng được vận chuyển. Tính kinh tế nhờ cự ly là chi phí vận tải cho mỗi đơn vị khối lượng hàng giảm khi khoảng cách vận chuyển tăng lên. Tính kinh tế nhờ khoảng cách trong vận tải tường được gọi là nguyên tắc hình nón. Nguyên lý cơ bản của tính kinh tế nhờ khoảng cách tương tự như tính kinh tế nhờ quy mô.
Đặc biệt, quãng đường dài hơn cho phép chi phí cố định được phân bố trên khoảng cách lớn hơn, dẫn tới cước phí mỗi km thấp hơn. Các đối tượng tham gia vận tải Môi trường vận tải ảnh hưởng tới quyết định được áp dụng trong hệ thống giao vận. Các quyết định vận tải ảnh hưởng bởi các đối tượng: (1) Chủ hàng (consignor); (2) người nhận hàng (consignee); (3) hãng vận tải và các đại lý; (4) các cơ quan quản lý của nhà nước; (5) mạng Internet; (6) cộng đồng. 10 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.
Người gửi và người nhận Người giao hàng và người nhận hàng có chung mối quan tâm tới việc vận chuyển hàng từ địa điểm đi tới địa điểm đến trong một khoảng thời gian xác định với chi phí thấp nhất. Các dịch vụ liên quan tới vận tải bao gồm thời gian giao nhận và phân phối hàng cụ thể, thời gian đi trên đường dự kiến và không có thất thoát, hư hỏng cũng như sự trao đổi thông tin, hóa đơn chính xác và đúng thời điểm. Hãng vận tải và đại lý Hãng vận tải là một đơn vị kinh doanh cung cấp dịch vụ vận tải mong muốn tối đa hóa doanh thu nhờ việc vận chuyển trong khi giảm tối thiểu các chi phí liên quan. Các đại lý trung gian và chuyển tiếp hàng sẽ tạo điều kiện cho việc kết nối giữa chủ hàng và bên vận chuyển.
sự phát triển gần đây của Internet hoặc các đại lý trung gian trên mạng ngày càng tạo điều kiện cho kết nối giữa năng lực của hãng và yêu cầu của khách hàng. Các cơ quan quản lý nhà nước Các cơ quan quản lý nhà nước quan tâm tới vận tải vì tầm quan trọng của dịch vụ vận tải với sự phát triển kinh tế và xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước mong muốn môi trường vận tải ổn định và hiệu quả để hỗ trợ cho phát triển kinh tế. 11 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 Hình 1. Mối quan hệ giữa các đối tượng tham gia vận tải Nguồn: Nguyễn Thành Hiếu – Quản trị chuỗi cung ứng, 2015 Bản chất chung của chính sách quản lý trong vận tải đã thay đổi mạnh mẽ trong mấy thập kỷ qua.
Sự phát triển gần đây của ngành vận tải có sự phối hợp rộng rãi các dịch vụ trên mạng Internet. Lợi thế căn bản của thông tin qua mạng Internet là khả năng hãng vận tải có thể chia sẻ thông tin theo thời gian thực với khách hàng và nhà cung cấp. Bên cạnh thông tin Internet trực tiếp giữa các doanh nghiệp trong cùng hoạt động giao vận, nhiều doanh nghiệp kinh doanh qua Website đã xuất hiện trong những năm gần đây. Những doanh nghiệp kinh doanh qua Website này thường cung cấp hai loại giao dịch thị trường.
12 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 loại đầu tiên là giao dịch trao đổi thông tin để kết nối năng lực vận tải của hãng vận tải với các hàng hóa cần được vận chuyển có sẵn. Không chỉ kết nối hàng vận chuyển, dạng thông tin thứ hai dựa trên Internet cho phép khách hàng lựa chọn các thông tin chi tiết liên quan đến quá trình vận chuyển hàng như nhiên liệu, thiết bị, các bộ phận và các yếu tố khác. Trao đổi thông tin tiến hành các hoạt động qua Internet giúp cho hãng vận tải có cơ hội tập hợp việc mua bán của mình và tìm kiếm các cơ hội khác thông qua danh mục các đối tác tiềm năng. Lý do cơ bản mà việc sử dụng Internet theo hình thức giao dịch trực tiếp B2B đã phát triển nhanh chóng trong vận chuyển bằng phương tiện ô tô là do thị trường hàng hóa vạn tải được phân đoạn rõ ràng.
Việc sử dụng dịch vụ qua Internet giúp chia sẻ thông tin trong một môi trường hoạt động được phân đoạn như vậy có sức thu hút rất lớn với cả hãng vận tải và người gửi hàng. Cuối cùng, việc sử dụng Internet như một công cụ chủ lực trong thông tin đang làm thay đổi nhanh chóng bản chất của quá trình vận tải. Sự sẵn có của các thông tin theo thời gian thực đang cải thiện việc giám sát hàng hóa tới từng địa điểm trên quãng dường đến mức mà việc theo dõi hàng ngày đang vận chuyển không còn là thách thức lớn nữa. Bên cạnh đó Internet có thể được sử dụng để chia sẻ thông tin liên quan tới lập kế hoạch và sắp xếp theo năng lực.
Cộng đồng Cộng đồng gián tiếp tạo ra nhu cầu vận tải bằng cách mua hàng. Trong khi tối thiểu hóa chi phí vận tải rất quan trọng với người tiêu dùng, đối tượng này cũng quan tâm tới an toàn và các tác động của môi trường hoạt động vận tải. Ảnh hưởng của ô nhiễm 13 Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.