CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về Ngân hàng thương mại 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ tập trung, phân phối lại nguồn vốn tiền tệ cũng như các dịch vụ có liên quan đến tài chính – tiền tệ khác trong nền kinh tế. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa.
Tiền thân của các nghiệp vụ ngân hàng bắt nguồn từ nghề đổi tiền và đúc tiền của các thợ vàng. Người làm nghề đúc tiền, đổi tiền, thực hiện kinh doanh tiền tệ bằng cách đổi ngoại tệ lấy bản tệ và ngược lại. Lợi nhuận thu được lấy từ chênh lệch giá mua và giá bán. Khoảng 3500 năm trước công nguyên, các ngôi đền tại xứ Chaldee (thuộc Irack ngày nay) đã có hoạt động tương tự như ngân hàng đó là tiếp nhận những lễ vật và tài sản do các tín đồ gửi, rồi cho nông dân vay với lãi xuất cao.
Đến thế kỷ IV, ở Ý, chính quyền La Mã đã tổ chức riêng một khu phố làm nơi hội họp cho những người mua bán, trao đổi tiền bạc và vay nợ. Các ngân hàng cho vay nặng lãi đã xuất hiện ở Ý khoảng 500 năm trước công nguyên, những ngân hàng này hoạt động với quy mô lớn. Sau thế kỷ XVI, xuất hiện ngân hàng có hệ thống của Ý như Banco di Napoli (1591), … Loại hình ngân hàng hiện đại xuất hiện trên thế giới vào thế kỷ 17, với việc hình thành các ngân hàng như Ngân hàng Amxtecdam năm 1609 ở Hà Lan, ngân hàng Hamburg năm 1619 ở Đức, ngân hàng Anh quốc năm 1649. Tại Việt Nam, vào thời kỳ Bắc thuộc và từ thế kỷ XIX trở về trước, là một nước nông nghiệp lạc hậu nên chưa hề có khái niệm về ngân hàng.
Sự đô hộ hàng ngàn năm của chế độ phong kiến phương Bắc đã làm cho nước ta hầu như không có sự tiếp xúc giao thương với các nước láng giềng, thương mại ít phát triển cả trong và ngoài nước. Do đó, nghề kinh doanh tiền tệ cũng kém phát triển, mang nặng tính phân tán, chủ yếu là hoạt động đổi tiền và cho vay nặng lãi. Khoảng giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Việt Nam trở thành thuộc địa. Từ đó, các thương gia người Pháp bắt đầu chiếm lĩnh thị trường Việt Nam (các nhà máy đường, nhà máy sợi, nhà máy dệt, …).
Thị trường nước ta ngày càng phát triển, trên lãnh thổ Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện hệ thống ngân Luan van 7 hàng hiện đại, gồm có ngân hàng Đông Dương với tư cách là ngân hàng phát hành giấy bạc và tiền kim loại cho các nước thuộc địa của Pháp ở Châu Á và một số ngân hàng thương mại của người nước ngoài và của người Việt Nam như ngân hàng Pháp – Hoa, ngân hàng Hồng Kông – Thượng Hải, Địa ốc ngân hàng, … để hỗ trợ cho các hoạt động kinh doanh thương mại. Ngày 6/5/1951, theo Sắc lệnh 15/SL của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (Hồ Chí Minh) Ngân hàng lấy tên là Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập, đây là Ngân hàng đầu tiên của nước ta. Từ năm 1951 đến trước khi có nghị định 53/HĐBT (26/3/1988), hệ thống ngân hàng ở nước ta là hệ thống ngân hàng một cấp, gồm Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng trực thuộc Ngân hàng Nhà nước như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Đầu tư. Hệ thống ngân hàng một cấp vừa làm chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng và thanh toán vửa làm nhiệm vụ kinh doanh.
Chính vì hệ thống ngân hàng đơn nhất với cơ chế quản lý tập trung bao cấp, đã làm cho hệ thống ngân hàng tại Việt Nam hoạt động đơn điệu và cứng nhắc, không đáp ứng được các yêu cầu đổi mới của nền kinh tế thị trường. Do đó, ngày 26/03/1988 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành nghị định 53/HĐBT là bước tiến trong hoạt động tiền tệ, tín dụng thoát khỏi tình trạng trì trệ và cứng nhắc, thích hợp với nền kinh tế nhiều thành phần. Theo mô hình này, công tác phát hành tiền vẫn do Ngân hàng Nhà nước đảm nhận, còn chức năng kinh doanh được các ngân hàng chuyên doanh đảm nhận. Tạo sự đổi mới ở dạng sơ khai của hệ thống ngân hàng hai cấp.
Tại giai đoạn này hoạt động tiền tệ, tín dụng vẫn còn ảnh hưởng từ thời bao cấp, cho vay ngắn hạn tràn lan, chi nhánh ngân hàng mở ra chưa phù hợp với nhu cầu thị trường. Ngày 23/05/1990, một bước tiến quan trọng khi Quốc hội ban hành 2 Pháp lệnh. Theo đó, các ngân hàng chuyên doanh quốc doanh được chuyển thành ngân hàng thương mại quốc doanh, bao gồm: Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương. Ngày nay ở nước ta ngân hàng được thành lập dưới nhiều loại hình và phát triển đến loại hình Ngân hàng cổ phần và được phép thực hiện đa dạng các nghiệp vụ, và hoạt động theo Luật tổ chức tín dụng được Quốc hội ban hành ngày 26/12/1997 và được sửa đổi bổ sung vào năm 2004.
Theo đó, ngân hàng Nhà nước làm nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ương, còn ngân hàng thương mại và các tổ Luan van 8 chức tín dụng khác hoạt động như các ngân hàng trung gian thực hiện chức năng kinh doanh. Hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam là hệ thống ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp được định hình và phát triển mạnh mẽ đặc biệt là sau khi nước ta là thành viên của các tổ chức kinh tế thế giới WTO (2007). Khái niệm ngân hàng thương mại Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM: Theo luật pháp nước Mỹ: “Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”. Đạo luật ngân hàng của Pháp năm 1941 cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".
Hay như ở Ấn Độ, luật ngân hàng năm 1950, bổ sung năm 1959 đã nêu: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay, tài trợ đầu tư”. Theo luật của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: “Các nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hàng nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển tiền, đứng ra bảo hiểm. Ở Việt Nam, theo điều 20 Luật tổ chức tín dụng (TCTD) được Quốc hội thông qua tháng 12 năm 1997 có nêu: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ Ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụn, cung cấp các dịch vụ thanh toán”. Vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
Nhờ hệ thống định chế này mà nguồn tiền nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng để cho vay và cung cấp các dịch vụ góp phần phát triển nền kinh tế. Chức năng của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại có các chức năng sau: Luan van 9 Thứ nhất là chức năng trung gian tài chính, thông qua việc huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, NHTM hình thành quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Thứ hai là chức năng trung gian thanh toán giữa các doanh nghiệp và cá nhân trong và ngoài nước. Đối với NHTM chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán.
Thứ ba là chức năng tạo tiền nghĩa là trong quá trình hoạt động ngân hàng thương mại đã gia tăng khối tiền tệ cung ứng thêm cho nền kinh tế. Thứ tư là chức năng kinh doanh dịch vụ thông qua việc sử dụng các nguồn lực tạo ra hàng hóa, sản phẩm tài chính và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Vai trò của ngân hàng thương mại Với các chức năng của mình, ngân hàng thương mại giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thể hiện qua các nội dung sau: Ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Để phát triển kinh tế, các đơn vị cần phải có một lượng vốn nhất định đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác. Lúc này cần có tổ chức đứng ra tập trung tiền nhàn dỗi và kịp thời cung ứng cho nơi cần vốn.
Bằng vốn huy động được, NHTM cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất, kinh doanh. Ngân hàng thương mại là cầu nối các doanh nghiệp với thị trường Bước sang cơ chế thị trường, nhờ sự phát triển của tín dụng ngân hàng đã làm biến đổi hoạt động trì trệ trong các nhà máy, xí nghiệp, khơi dậy sức sống bằng các dây truyền sản xuất hiện đại năng suất cao, thực hiện chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến. Tín dụng ngân hàng góp phần cung cấp một lượng vốn không nhỏ trong việc tăng trưởng nguồn vốn lưu động phù hợp với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật – công nghệ cao. Ngân hàng thương mại là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống ngân hàng được chia làm hai cấp: Ngân hàng Nhà nước và ngân hàng chuyên doanh (NHTM).
Ngân hàng công thương được nhà nước cấp vốn cho hoạt động và sử dụng như công cụ để quản lý hoạt động tiền tệ, điều tiết chính sách tiền tệ quốc gia. Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng thương mại trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền Luan van 10 tệ cung ứng và lưu thông.