Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở thực tiễn về hoạt động dau tư trái phiếu doanh nghiệp tại ngân hàng thương mai Chương 2. Quy trình và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng hoạt động dau tư trai phiếu doanh nghiệp tại Ngán hàng TMCP Công thương Việt Nam.
Giải pháp nhằm phát triển hoạt động dau tư trái phiếu doanh nghiệp tại Ngan hàng TMCP Công thương Việt Nam. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ THUC TIEN VỀ HOẠT ĐỘNG DAU TƯ TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động đầu tư TPDN của các NHTM chưa thực sự là một hướng nghiên cứu nhận được nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Là một bộ phận cấu thành danh mục đầu tư chứng khoán của các NHTM, hoạt động đầu tư TPDN chưa được nghiên cứu một cách độc lập, riêng rẽ, dù đây là công cụ đầu tư tài chính quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn đối với các NHTM hiện nay.
Các nghiên cứu nước ngoài Thị trường TPDN và các lý thuyết về thị trường được nghiên cứu ở nước ngoài đã có bề dày lịch sử, việc tham khảo kinh nghiệm của các nghiên cứu của các tác giả ở nước ngoài là hết sức cần thiết với một nên tài chính non trẻ như Việt Nam, có thé ké đến một số công trình nghiên cứu và các khía cạnh nghiên cứu như sau: Lepetit và cộng sự (2008), Bank income structure and risk: an empirical analysis of European banks. Journal of Banking & Finance 32 (8), 1452-1467, da chi ra rang cac NHTM cang trién khai nhiéu san pham, dich vụ tài chính bên ngoài hoạt động tin dụng và huy động vốn thông thường càng phải đối mặt với nhiều rủi ro và có lợi nhuận biến động bat thuong mac dù mối quan hệ tác động này có thé thay đổi tùy thuộc vào quy mô, đặc điểm sở hữu và loại hình sản phẩm, dịch vụ tài chính phi lãi mà các đơn vị này cung cấp cho thị trường. Goswami va Sharma (2011), “The Development of Local Debt Marketsin Asia”, International Monetary Fund Working Paper, khi nghién cứu về sự phát triển của thị trường nợ trong nước ở Châu Á cũng đã đi đến kết luận rằng sự thống trị của các NHTM, thiếu quy mô phát hành hợp lý, thiếu mạng lưới các nhà đầu tư đa dạng và các nhà đầu tư thực sự (những người mua trái phiếu với mục đích năm giữ chứ không phải kinh doanh để hưởng chênh lệch giá), thiếu những qui định và khung pháp lý cho các định chế tài chính phi ngân hàng, sự điều khiển thuế và vốn đối với các nhà đầu tư nước ngoai, hệ thống quản trị doanh nghiệp yếu kém, thông tin thị trường không day đủ, chi phí phát hành và chi phí giao dich cao cũng như thiếu các cơ sở tham chiếu về giá, các công cụ bảo hiểm rủi ro là nguyên nhân chính khiến thị trường trái phiếu ở Châu Á chưa phát triển. Mary Jo White, SEC Chairman (2014), corporate bond market structure: the time for reform is now, cho rang thị trường TPDN là thị trường cung cấp nguồn vốn nhiều nhất và lớn nhất cho doanh nghiệp trong thời gian gần đây.
Để phát triển thị trường này thì việc chuẩn hóa các sản phẩm được cung cấp, cùng với đó là một môi trường kinh tế vĩ mô 6n định sẽ tạo ra sức thanh khoản cho các sản phẩm này, từ đó sẽ thu hút các nhà đầu tư trong lĩnh vực nay. Nghiên cứu cua Jan-Pieter Krahnen, Felix Noth và Ulrich Schu wer (2017), “Structural Reforms in Banking: The Role of Trading”, Journal of Financial Regulation, Volume 3, Issue 1, March 2017, Pages 66-88, đã tập trung vào việc phân tích và dé xuất cách tiếp cận riêng trong tổ chức hoạt động đầu tư của NHTM dựa trên sự tham chiếu và phản biện các quy tắc như Volcker, Vickers, Liikanen. Theo quan điểm của tác giả, dù tất cả các quy định trên đều nhằm 6n định hệ thống ngân hàng thông qua việc tách hoạt động tự doanh khỏi các hoạt động ngân hàng truyền thống, hoạt động đầu tư trong các NHTM vẫn có những giá trị và lợi ích nhất định, nên được nhìn nhận lại một cách khách quan và tích cực hơn, những giới hạn đã đưa ra cũng nên được điều chỉnh theo hướng phân tích cặn kẽ sự đánh đổi giữa chỉ phí và lợi ích. (2019), “Credit Supply: Are there Negative Spillovers from Banks’ Proprietary Trading?”, De Nederlandsche Bank Working Paper No.
Kết quả phân tích dữ liệu cho thay các ngân hàng tham gia sâu vào hoạt động kinh doanh chứng khoán cung cấp cho doanh nghiệp mức tín dụng it hơn khoảng 19% so với các ngân hang it tham gia vào hoạt động đầu tư chứng khoán, tỷ lệ này còn tăng thêm 3,25% trong điều kiện khủng hoảng. Các kết quả định lượng cũng cung cấp bằng chứng đáng tin cậy răng nguồn cung tin dụng giảm từ các ngân hàng tham gia sâu vào hoạt động chứng khoán đã có tác động tiêu cực với những người di vay của họ. Các doanh nghiệp có xu hướng đầu tư ít vốn hơn và mở rộng lực lượng lao động với ty lệ thấp hơn khi họ phụ thuộc nhiều vào các ngân hàng này dé cấp vốn. Với quy mô nghiên cứu toàn cau, các tác giả đã có những khám phá mới mẻ về hoạt động cho vay và đầu tư của các ngân hàng trên thị trường quốc tế.
Cuối cùng, tác giả chỉ ra răng những tác động lan tỏa từ hoạt động đầu tư chứng khoán đến hoạt động tín dụng dẫn đến những hệ quả bất lợi cho nền kinh tế vì các doanh nghiệp giảm khả năng mở rộng vốn đầu tư và lao động. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả cũng có những hạn chế về đữ liệu, khi tập người đi vay chỉ bao gồm những doanh nghiệp được niêm yết trên các sàn chứng khoán, điều này hàm ý rằng những người đi vay này hoàn toàn có khả năng bù đắp nguồn cung tin dụng ngân hàng suy giảm băng các nguồn tài trợ khác. Các nghién cứu trong nước Trần Đăng Kham (2003), Thúc đây sự tham gia của trung gian tai chính trên thị trường chứng khoán, Luận án tiễn sĩ, Dai học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, đã nghiên cứu hoạt động kinh doanh chứng khoán, môi giới chứng khoán, đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán. trong đó có nêu cao vai trò cũng như hoạt động của các tổ chức này đến hoạt động của thị trường trái phiếu.
Tuy nhiên việc nghiên cứu mới chỉ đứng ở góc độ của nhà quản lý thị trường về phát triển thị trường chứng khoán nói chung chứ chưa phải là góc độ của doanh nghiệp; về phạm vi thời gian, số liệu về thực trạng, các giải pháp đưa ra phân tích đến nay đã không còn phù hợp. Tác giả Nguyễn Thị Anh Dao (2011) với dé tài về sự tham gia của hệ thống NHTM vào thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đã có những đóng góp khoa học ý nghĩa về hoạt động đầu tư và tô chức hoạt động đầu tư của NHTM, tập trung vào những van dé cụ thé sau: Hệ thống hoá những lý luận cơ bản về sự tham gia của NHTM vào TTCK và Nghiên cứu các quy luật tham gia TTCK và mô hình ngân hàng tham gia TTCK trên thế giới. NHTM có thé tham gia vào TTCK với các hoạt động đa dạng như hoạt động kinh doanh chứng khoán, tham gia phát hành và niêm yết chứng khoán, tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán.; đồng thời đóng nhiều vai trò quan trọng: là nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán, nhà tạo lập thị thường, là tổ chức cung cấp dịch vụ trung gian, dịch vụ hỗ trợ TTCK, là tô chức phát hành và niêm yết chứng khoán trên TTCK, cấu thành nên một bộ phận không thé thiếu của thị trường. Tác giả Vũ Hoàng Nam (2015) đã thực hiện luận án tiến sỹ với đối tượng nghiên cứu là hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của các NHTM.
Tác giả tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM. Nhìn chung, kết quả hoạt động kinh doanh trai phiếu của 04 NHTM mà tác giả lựa chọn đều được đánh giá tích cực. Một là, quy mô đầu tư trái phiếu có xu hướng tăng, tình hình thu nhập tăng dần qua các năm, tỷ lệ nợ quá hạn thấp, góp phần đảm bảo an toàn hoạt động của ngân hàng. Hai là, các NH đã từng bước đa dạng hoá các loại hình trái phiếu nắm giữ trong danh mục đầu tư theo chiến lược cân đối phù hợp giữa tỷ trong của các loại trái phiếu ít rủi ro như TPCP, TPCQDP.va các loại trái phiếu doanh nghiệp.
Ba là, tác giả đánh giá hoạt động đầu tư trái phiếu đã có sự thay đổi cơ bản từ “bị động” sang “chủ động hơn”, thể hiện qua cách thức tham gia vao thị trường, lựa chọn đối tác giao dịch, chiến lược đầu tư, quy mô nắm giữ, sự đầu tư cho hạ tầng công nghệ. Thứ tư, tác giả đã nỗ lực trong việc lựa chọn mô hình đánh giá và rút ra những kết luận về sự tác động của một số nhân tố đến hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM. Cuối cùng, dựa trên kết quả phân tích và đánh giá, tác giả đã đề xuất hệ thống các giải pháp được xây dựng đồng bộ, bao gồm các giải pháp ngắn hạn và các giải pháp dài hạn, có điều kiện áp dụng tốt nhất trong thực tế nhằm phát triển hoạt động đầu tư kinh doanh trái phiếu của NHTM Việt Nam cả về mặt lượng và mặt chất. Đồng thời, luận án cũng dé xuất một hệ thong cac kiến nghị hỗ trợ dé hoàn thiện môi trường phát huy tối đa tac dụng của hệ thống các giải pháp nêu trên.
Đối với hoạt động đầu tư của Vietinbank tác giả Nguyễn Thị Linh Chi (2014) đã nghiên cứu “Đánh giá thực trạng quan lý đầu tư mua sắm tai sản cố định và thiết lập Quy trình quan lý đầu tư mua sắm tài sản cố định tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam”. Luận văn đã nghiên cứu cơ sở lý thuyết về quản lý mua săm tài sản cố định tại NHTM. Thông qua việc phân tích và đánh giá thực trạng về quan lý đầu tư mua sắm tài sản cố định tại Vietinbank, luận văn đã đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình quản lý đầu tư mua sam tải sản cố định tại ngân hàng TMCP Vietinbank. Ngoài ra, còn có đề tài “Quản lý danh mục đầu tư trái phiếu” của tác giả Hoàng Xuân Tài (2007), Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân.