lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữ viết tắt, danh mục sơ đồ, bảng, biểu, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và phát triển Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp nhằm tăng cƣờng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đầu tƣ và phát triển Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1. RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1. Khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân hàng Đứng trên giác độ nghiên cứu kinh tế, rủi ro đƣợc hiểu là tác động của những biến cố xảy ra trong tƣơng lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hoặc một danh mục tài sản mà khả năng xảy ra biến cố đó có thể dự đoán trƣớc nhƣng không thể dự đoán chính xác biến cố đó sẽ xảy ra nhƣ thế nào. Rủi ro thƣờng đƣợc đo lƣờng bằng độ lệch chuẩn giữa lợi nhuận thực tế của các chủ thể kinh tế với mức lợi nhuận dự kiến.
Mức độ biến động của lợi nhuận càng lớn, nghĩa là sự không chắc chắn càng nhiều thì nguy cơ rủi ro càng cao. Trong nền kinh tế thị trƣờng, kinh doanh luôn đi kèm với rủi ro, hoạt động kinh doanh của các NHTM cũng không ngoại lệ. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, chính vì vậy nên nó chịu ảnh hƣởng nhanh chóng của mọi biến động trong nền kinh tế - xã hội, điều đó có thể gây nên những xáo trộn bất ngờ và dẫn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng bị giảm sút một cách nhanh chóng. Có thể nói đối với hoạt động ngân hàng hầu nhƣ không có loại nghiệp vụ nào, không có loại dịch vụ nào là không có rủi ro.
Nhƣ vậy, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định. Để quản lý và kiểm soát một cách hiệu quả các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng, các nhà nghiên cứu rủi ro ngân hàng đã tiến hành phân tích rủi ro trên nhiều khía cạnh, dƣới các giác độ khác nhau, phân loại rủi ro theo nhiều tiêu thức khác nhau. Một tập hợp về phân loại rủi ro ngân hàng đƣợc 6 nhiều nƣớc công nhận gồm 4 loại chủ yếu sau: - Rủi ro tín dụng - Rủi ro thị trƣờng - Rủi ro thanh khoản - Rủi ro hoạt động. Trong đó các loại rủi ro trƣớc đây đƣợc xem xét một cách độc lập nhƣng có quan hệ chặt chẽ với nhau đƣợc quy tụ cùng nhóm nhƣ: rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất nay đƣợc quy vào nhóm rủi ro thị trƣờng và nhóm rủi ro hoạt động tập hợp các rủi ro liên quan đến việc tổ chức vận hành hệ thống bộ máy kinh doanh.
Ảnh hƣởng của rủi ro trong hoạt động ngân hàng Trong kinh tế thị trƣờng, hệ thống ngân hàng đƣợc ví nhƣ hệ thống thần kinh của nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động thông suốt, lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân bổ và sử dụng hiệu quả, kích thích tăng trƣởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tạo công ăn việc làm. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trƣờng rủi ro là không thể tránh khỏi mà đặc biệt là trong hệ thống ngân hàng. Rủi ro không chỉ ảnh hƣởng tới bản thân mỗi ngân hàng mà từ đó còn ảnh hƣởng tới nền kinh tế nói chung.
Đối với bản thân các ngân hàng, rủi ro sẽ gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng: mất vốn khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị của tài sản; dẫn tới khả năng ngân hàng có thể thua lỗ thậm chí là phá sản, điều đó sẽ ảnh hƣởng đến những khách hàng gửi tiền cũng nhƣ khách hàng vay tiền,… làm giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng. Đối với nền kinh tế: làm nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp, sẽ kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng ảnh hƣởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế chính trị, xã hội của một nƣớc và có thể lan rộng sang quy mô quốc tế. Rủi ro lãi suất 1.
Khái niệm rủi ro lãi suất Khi lãi suất thị trƣờng thay đổi, ngân hàng thấy rằng những nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tƣ chứng khoán cũng nhƣ chi phí đối với tiền gửi và các nguồn vay đều bị tác động. Ngoài ra, sự thay đổi lãi suất ảnh hƣởng đến giá trị thị trƣờng của tài sản Có (TSC) và tài sản Nợ (TSN), làm thay đổi giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Vì vậy, lãi suất thay đổi tác động đến toàn bộ Bảng cân đối kế toán và Báo cáo thu nhập của ngân hàng. Nhƣ vậy, rủi ro lãi suất là nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trường biến động.
Có thể hiểu rằng rủi ro lãi suất thể hiện rủi ro tiềm tàng của một ngân hàng do các biến động của lãi suất. Đây là rủi ro mang tính đặc trƣng của bất kỳ một NHTM nào. Nguyên nhân của rủi ro lãi suất Thứ nhất, sự biến động của lãi suất thị trường Lãi suất là giá cả của tín dụng, giá mà ngƣời cho vay đặt ra để đánh đổi quyền sử dụng vốn cho vay của họ. Nói cách khác, lãi suất là tỷ lệ giữa mức phí phải trả để nhận đƣợc quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định trên tổng số tiền vay.
Một ngân hàng dù quy mô lớn đến đâu và dù đứng bên phía cung hay phía cầu của thị trƣờng cũng không thể tự xác định mức lãi suất hoặc xác định chắc chắn về xu hƣớng vận động của lãi suất. Lãi suất cũng nhƣ bất kỳ một loại giá cả nào khác đƣợc hình thành tự nhiên và khách quan theo quy luật cung cầu của thị trƣờng. Nhƣ vậy, mỗi ngân hàng chỉ có thể phản ứng và điều chỉnh hoạt động của mình theo sự biến động lãi suất để đạt đƣợc mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất. Có nhiều nguyên nhân khác nhau có thể tác động làm thay đổi mức lãi suất cân bằng trên thị trƣờng.
Có thể liệt kê một số nguyên nhân cơ bản nhƣ sau: - Lạm phát dự tính xảy ra, lãi suất sẽ tăng. Kết quả này đƣợc gọi là 8 Hiệu ứng Fisher. Với một lãi suất cho trƣớc, khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực của việc vay tiền giảm xuống do đó lƣợng cầu quỹ cho vay tăng lên ở bất kỳ lãi suất nào cho trƣớc và đƣờng cầu quỹ cho vay dịch chuyển về bên phải. Đồng thời, khi lạm phát dự tính tăng lên, có nghĩa là giá cả hàng hóa dự tính tăng, do đó lợi tức dự tính của những tài sản thực tăng, trong khi đó tiền tệ mất giá sẽ làm sụt giảm lợi tức dự tính của những tài sản tài chính so với tài sản thực.
Do vậy, ngƣời có tiền có xu hƣớng chuyển sang nắm giữ nhiều hơn các tài sản thực, hạn chế việc cho vay tiền làm lƣợng cung về quỹ cho vay giảm ở bất kỳ lãi suất nào cho trƣớc và đƣờng cung quỹ cho vay dịch chuyển sang trái. - Giai đoạn phát triển trong chu kỳ kinh doanh. Trong giai đoạn phát triển của một chu kỳ kinh doanh, tổng số hàng hóa và dịch vụ đƣợc sản xuất ra trong nền kinh tế tăng lên khiến cho thu nhập quốc dân tăng lên. Nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong xã hội gia tăng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cƣờng việc cung ứng, đồng nghĩa với việc họ sẽ có thêm nhiều cơ hội đầu tƣ kiếm lời.
Khi đó, các doanh nghiệp có thêm nhu cầu vay tiền trong khi nguồn vốn tự tài trợ không tăng tƣơng xứng. Điều này làm tăng mức cầu về quỹ cho vay và làm dịch chuyển đƣờng cầu quỹ cho vay sang phải, làm tăng mức lãi suất cân bằng. Mặt khác, khi chu kỳ kinh doanh phát đạt, thu nhập của mọi chủ thể trong xã hội đều tăng lên làm tăng khả năng cung ứng vốn tín dụng và đƣờng cung quỹ cho vay cũng dịch chuyển sang phải, có tác động ngƣợc lại, làm giảm mức lãi suất cân bằng. - Chính sách tiền tệ của NHTW cũng là một nguyên nhân quan trọng có tác động thay đổi lãi suất.
Theo John Maynard Keynes, lãi suất cân bằng đƣợc xác định dựa vào lƣợng cung - cầu tiền tệ và việc xác định lãi suất cân bằng theo cách này có cùng kết quả với việc xác định theo lý thuyết cung cầu quỹ cho vay. Trong khi đó, khối lƣợng tiền cung ứng phụ thuộc vào việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW. Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ 9 thắt chặt (hoặc mở rộng) thông qua các công cụ nhƣ dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, thị trƣờng mở,. sẽ tác động đến cung tiền tệ làm cho cung tiền tệ giảm xuống (hoặc tăng lên), do đó làm giảm cung quỹ cho vay (hoặc tăng), từ đó tác động làm tăng (hoặc giảm) lãi suất.
Tuy nhiên, Keynes giả định “các yếu tố khác không thay đổi” không hoàn toàn phù hợp với thực tế. Theo Milton Friedman, phân tích trên đƣợc xem là tác động tính lỏng của sự thay đổi lƣợng tiền cung ứng, bên cạnh đó còn có thêm các tác dụng khác: tác động mức giá, thu nhập và lạm phát dự tính. Những tác động này có ảnh hƣởng theo chiều hƣớng ngƣợc lại đối với mức lãi suất cân bằng thị trƣờng. Nhƣ vậy, trên thực tế, khi mức cung tiền tăng lên, lãi suất thị trƣờng sẽ tăng hay giảm còn phụ thuộc vào độ lớn và thời gian phát huy của các tác động trên.
Nói chung, tác động tính lỏng của sự thay đổi mức cung tiền hữu hiệu ngay tức khắc vì việc tăng lƣợng tiền cung ứng dẫn đến sự giảm ngay tức khắc lãi suất cân bằng.