CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ TRÁI PHIẾU VÀ ƯỚC LƯỢNG ĐƯỜNG CONG LÃI SUÁT TRÁI PHIẾU 1.1 NHỮNG VẤN ĐÈ CƠ BẢN VẺ TRÁI PHIẾU VÀ LỢI SUÁT TRÁI PHIẾU 1.1 Khái niệm Theo Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29- 06- 2006 của Quốc hội thì Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành. Trái phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoặc bút toán ghi số, xác nhận nghĩa vụ trả nợ (bao gồm vốn gốc và lãi) của tổ chức phát hành trái phiếu đối với người sở hữu trái phiếu trong những khoảng thời gian cụ thể. Vì vậy, trái phiếu được gọi là chứng khoán nợ. Trái phiếu là một loại chứng khoán nợ chứng nhận khoản vay do người đi vay phát hành cam kết trả lợi tức và hoàn trả vốn vay theo một thời hạn nhất định cho người sở hữu chứng khoán.
Theo danh tính của trái phiếu - Trái phiếu vô danh là trái phiếu trên bề mặt của nó không ghi tên người sở hữu, thay vào đó bằng số seri của trái phiếu. Người được nhận trái tức và hoàn vốn là người đang giữ trái phiếu đó một cách trung thực. Người này chỉ việc xuất trình giấy chứng nhận quyền sở hữu trái phiếu ghi rõ số seri, mệnh giá, trái suất và thời hạn của nó. Khi thu trái tức, trái chủ chỉ việc cắt phiếu lãi (coupon) rời trái phiếu ra và trực tiếp đến doanh nghiệp phát hành ra nó đề thu tiền, nếu ở gần, hoặc nhờ ngân hàng thu hộ tiền theo phương thức thanh toán nhờ thu, nếu ở xa doanh nghiệp hay không có điều kiện thu trái tức trực tiếp.
Việc mua bán, chuyển nhượng, trao đổi trái phiếu vô danh rất thuận lợi, không phức tạp như trái phiếu ghi danh. - Trái phiếu ghi danh là trái phiếu trên bề mặt của nó ghi tên của người sở hữu trái phiếu và/hoặc ghi tên người sở hữu trong số sách hay phòng đăng ký của doanh nghiệp phát hành. Ví dụ, trái phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam phải ghi tên trái chủ, ngân hàng phát hành phải mở sô đăng ký quyền sở hữu và tiễn hành đăng ký lại khi có yêu cầu chuyên nhượng quyền sở hữu. Khi yêu cầu chuyển nhượng, trái chủ phải ghi tên, địa chỉ, số chứng minh thư nhân dân của người được chuyên nhượng hoặc thừa kế vào mặt sau của trái phiếu và ký vào trái phiếu.
Người thụ hưởng kế tiếp này phải mang trái phiếu đến ngân hàng phát hành ra nó để đăng ký lại quyền sở hữu trái phiếu cho mình. Theo hình thức góp vốn Trái phiếu bao gồm trái phiếu hiện kim (góp bằng tiền) và trái phiếu hiện vật. Theo phương thức trả lãi - Tri phiéu Coupon (Coupon bond): 1a trai phiéu có cuống lãi đính kèm, trên đó ghi rõ lãi suất và kỳ hạn trả lãi. Thông thường đối với loại trái phiếu này, khi yết giá, trái suất thường được A A A 1 „ thê hiện kèm với thời hạn của trái phiêu.
Ví dụ: “Trái phiêu A 5 1 hêt hạn vào năm 2006”, có nghĩa là trái phiếu Coupon của doanh nghiệp A có trái suất 5,25% hết hạn vào năm 2006. Khi lĩnh trái tức, trái chủ cắt rời phiếu lãi chuyên đến doanh nghiệp phát hành để thu tiền. Trái phiếu Coupon có thê là loại Straight - coupon Bond, tức là không hoàn vốn trước hạn hoặc là loại Callable coupon Bond, tức là có hoàn vốn trước hạn. - Trái phiếu Zero - coupon là loại trái phiếu hoặc là không có phiếu lãi đính kèm hoặc là không có trái tức, gồm 2 loại: + Trái phiếu chiết khấu là loại trái phiếu được bán với giá thấp hơn mệnh giá, khi hoàn vốn được hoàn theo mệnh giá.
Phần chênh lệch đó thực chất là trái tức. Người ta gọi đây là trái phiếu có trái tức mật. + Trái phiếu gộp: là loại trái phiếu được hoàn trả vốn và lãi khi đáo hạn (trái phiếu hưởng lãi sau). Theo chủ thê phát hành * Trái phiếu công ty: Trái phiếu công ty là trái phiếu do công ty phát hành với mục đích huy động vốn đề bồ sung vốn tạm thời thiếu nhằm phục vụ cho đầu tư phát triển của công ty.
Trái phiếu công ty có rất nhiều loại tuỳ thuộc vào điều kiện, sự tính toán mà công ty có thể lựa chọn. - Trái phiếu tín chấp: là loại trái phiếu được phát hành dựa vào uy tín của công ty. Chúng thường do các công ty lớn, có danh tiếng và uy tín phát hành. Uy tín của doanh nghiệp được thê hiện và minh chứng thông qua Bảng tổng kết tài sản, bảng phân tích thu nhập của doanh nghiệp và việc đánh giá khả năng thanh toán kịp thời vốn và lãi cho trái chủ.
- Trái phiếu thế chấp hoặc cằm cố: Chứng khoán nợ được đảm bảo bằng tài sản cụ thể của công ty phát hành (nhà máy, thiết bị, chứng khoán.) gọi là trái phiếu thế chấp hoặc cầm cố. Khi phát hành, công ty phải có một số lượng tài sản tương ứng ký thác tai cơ quan uỷ thác để làm bằng chứng, bảo đảm khả năng hoàn trả vốn và lãi cho trái phiếu. Thông thường số chứng khoán được công ty đem ký thác phải có giá trị trên 25% số vốn tổng trị giá trái phiếu phát hành. Trái phiếu thế chấp hoặc cầm cố có thể có 2 loại: trái phiếu đóng và trái phiếu mở.
Với trái phiếu đóng, công ty phát hành không được phép phát hành bắt kỳ một loại chứng khoán bổ sung nào đối với những tài sản đã được thế chấp. Với trái phiếu mở, công ty được phép phát hành chứng khoán bổ sung đối với tài sản đã được thế chấp theo một tỷ lệ nhất định. Do đó, trái phiếu thế chấp mở thường có lãi suất cao hơn trái phiếu thế chấp đóng. - Trái phiếu bảo lãnh: là loại trái phiếu được đảm bảo khả năng thanh toán về vốn và lãi bởi một doanh nghiệp khác.
Người bảo lãnh thường là ngân hàng, công ty tài chính, công ty bảo hiểm hay các công ty chứng khoán. Nếu sự bảo lãnh được thực hiện bởi nhiều người bảo lãnh thì trái phiếu bảo lãnh còn gọi là trái phiếu liên đới. - Trái phiếu chuyển đổi: là loại trái phiếu mà khi phát hành, công ty có đưa kèm điều khoản cho phép người chủ sở hữu trái phiếu được chuyển đổi trái phiếu của mình thành một số lượng cô phiếu thường của cùng một công ty phát hành, nếu như đáp ứng được những điều kiện chuyên đổi. Điều này đã làm tăng cơ hội kiếm lời cho người mua trái phiếu khi giá cổ phiếu gia tăng trên thị trường.
Vì vậy, loại trái phiếu này rất hấp dẫn đối với người đầu tư và thường được nhiều công ty cổ phần áp dụng. - Trái phiếu thu nhập: loại trái phiếu này thường được sử dụng khi tổ chức lại công ty hoặc khi công ty bị suy thoái về tài chính. Lãi suất của loại trái phiếu này chỉ được thanh toán khi công ty thực sự có lãi. Vì vậy, loại chứng khoán này là sự lai tạp giữa trái phiếu và cổ phiếu thường.
Tuy nhiên, người nắm giữ trái phiếu thu nhập có quyền ưu tiên về lợi nhuận hơn so với người nắm giữ cỗ phiếu. Nghĩa là, các cổ đông có cỗ phiếu chỉ có thê nhận được cô tức khi những người sở hữu trái phiếu thu nhập đã được thanh toán đầy đủ tiền lãi. - Trái phiếu hoàn vốn: loại trái phiểu này cho phép doanh nghiệp được hoàn vốn cho trái chủ trước hạn theo một trong hai cách: + Hoàn vốn vào bất cứ lúc nào trong thời hạn của trái phiếu. + Hoàn vốn sau một thời hạn nhất định kê từ ngày trái phiếu được phát hành (gọi là thời hạn bảo vệ chống hoàn vốn).
Ví dụ trái phiếu công nghiệp ở Mỹ có thời hạn chống hoàn vốn là 10 năm, trái phiếu của doanh nghiệp thương mại là 3 đến 5 năm. Thông thường, công ty mua lại trái phiếu với sự chấp nhận trả cho người có trái phiếu theo giá gia tăng và lớn hơn mệnh giá trái phiếu. Đối với công ty, ngoài những loại trái phiếu kể trên, tuỳ theo tập quán của mỗi nước, người ta có thê còn có những loại trái phiếu khác. Ví dụ: Trái phiếu Bull dog là loại trái phiếu của Anh có lãi suất cố định và có thê bán cho người nước ngoài; trái phiếu chỉ số là loại trái phiếu có lãi suất không cố định được điều chỉnh tuỳ thuộc vào chỉ số giá sinh hoạt hàng tháng, năm,.
* Trái phiếu Nhà nước: Là chứng khoán nợ do Chính phủ trung ương hoặc Chính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp sự thiếu hụt ngân sách và tài trợ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi công cộng của trung ương và địa phương. Đặc điểm của trái phiếu Nhà nước là độ tin cậy về khả năng thanh toán rất cao trong điều kiện kinh tế bình thường, không có chiến tranh, đảo chính quân sự. 10 Do đó, các nhà đầu tư thường thích lựa chọn phương án đầu tư vào trái phiếu Chính phủ hơn là trái phiếu doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Tương tự như trái phiếu công ty, trái phiếu Chính phủ cũng bao gồm nhiều loại phong phú và đa dạng như: - Tín phiếu kho bạc trung hạn: là phiếu nợ trung hạn, thường có thời hạn từ l năm đến 10 năm, do Kho bạc phát hành khi huy động vốn để bổ sung quỹ ngân sách.
Thông thường, đây là loại trái phiếu coupon. - Trái phiếu Kho bạc: tương tự như tín phiếu Kho bạc, nhưng loại trái phiếu này có thời hạn thường trên 10 năm. - Trái phiếu đô thị: đây là những loại phiếu nợ dài hạn do Chính phủ trung ương hay Chính quyền địa phương phát hành nhằm huy động nguồn vốn tài trợ cho các dự án đầu tư hạ tầng như xây dựng trường học; tu bổ, phát triển xa lộ, cầu cảng, phi trường. Kỳ hạn trái phiếu này từ 10 năm đến 30 năm.
Các trái phiếu này thường được các ngân hàng mua vảo lúc phát hành, sau đó tô chức bán lại trên thị trường chứng khoán thứ cấp cho các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính, những người có tài sản lớn, thu nhập cao. - Công trái Nhà nước: là loại trái phiếu dài hạn đặc biệt, thời hạn từ 10 năm trở lên, được phát hành từng đợt. Loại chứng khoán này do Nhà nước phát hành để bù đắp sự thiếu hụt của Ngân sách. Ở các nước phát triển, đây là loại trái phiếu được ưa chuộng nhất vì hầu như không có rủi ro và tuy lãi suất tương đối thấp, nhưng số lãi này không phải chịu thuế.